- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng số 2 tại xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đối với T S T.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 100 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI Số: 01/QĐ-TA | S, ngày 18 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH LÀO CAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Trần Bình Trọng
2. Thư ký phiện họp: Bà Nguyễn Thị Huyền
Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định mở phiên họp số 01/QĐ-TA ngày 13/9/2023 đối với:
Họ và tên: T S T; Giới tính: Nam; sinh ngày 21/6/2008;
Dân tộc: Hmông; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12;
Nguyên quán: huyện S, tỉnh Lào Cai;
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L D S, xã S C, huyện S, tỉnh Lào Cai;
Nghề nghệp: Không;
Tiền án; tiền sự: Không;
Con ông: T S H và bà H T M;
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dướng T S T có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Văn Sơn - Đội trưởng đội điều tra tổng hợp Công an huyện S, tỉnh Lào Cai.
2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Dương Thị Hồng Luận - Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai.
3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào trường giáo dưỡng: Ông T S H và bà H T M là bố và mẹ đẻ của T S T (đều có mặt tại phiên họp).
4. Người phiên dịch: Bà Lù Thị Ngân sinh năm 1991, địa chỉ nơi cư trú: Thôn Sảng Chải, xã Nàn Sán, huyện S, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
NHẬN THẤY
Sau khi nhận được đơn trình báo của ông G C là ông của cháu G T M, trình bày vào ngày 27/6/2023 T S T có tình cảm trai gái với G T M và còn đánh M. Quá trình điều tra xác định: Do có quan hệ quen biết với nhau vì học cùng Trường trung học cơ sở xã S C, huyện S. Lần thứ nhất khoảng 20 giờ, một ngày không rõ, vào tháng 11 năm 2022, T S T sinh ngày 21/6/2008 trú tại thộ L D S, xã S C, huyện S điều khiển xe mô tô đi đến nhà G T M sinh ngày 13/01/2011 đón M đi chơi, khi đến đoạn đường vắng thuộc thôn S H S, xã S C, huyện S, T dừng xe bên đường đứng nói chuyện cùng M, nói chuyện một lúc thì T hôn M và nói với M là yêu nhau lâu rồi nên xin M cho quan hệ tình dục, M gật đầu đồng ý, T dẫn M xuống khu đất trống phía dưới đường cách đường khoảng 15-20m T đứng đằng sau M dùng hai tay vòng qua eo và cởi cúc quần ngoài của M, kéo séc quần của M xuống đến đầu gối M, T tiếp tục tụt quần dài và quần lót của T xuống ngang đùi, T dùng tay phải ấn vào lưng của M, đẩy M cúi người xuống phía trước chổng mông về phía T rồi T dùng hai tay cầm dương vật đang cương cứng đưa vào âm hộ của M từ phía sau, T nhấp dương vật trong âm đạo của M được khoảng 4-5 phút thấy có hiện tượng xuất tinh nên T rút dương vật ra ngoài âm đạo để suất tinh, sau khi quan hệ tình dục xong T dùng tay áo bên phải đang mặc lau mông, âm hộ của M và lau dương vật của T. Sau đó cả hai tự kéo quần lên và đi lên vị trí dựng xe rồi T đưa M về.
Lần thứ hai vào khoảng 20 giờ, một ngày không rõ tháng 12 năm 2022 T điều khiển xe mô tô đến nhà M đón M đi chơi, sau đó T đưa M đến đoạn đường vắng thuộc thôn S H S, xã S C, huyện S, T xin M cho quan hệ tình dục, M gật đầu đồng ý, T dẫn M xuống khu đất trống cạnh đường cách đường khoảng 15-20m, tại đây T đứng sau M dùng hai tay vòng qua eo M, dùng hai tay cởi cúc và tụt quần dài của M đến đầu gối của M, T tiếp tục dùng hai tay tụt quần dài và quần lót của T xuống ngang đùi dùng tay phải ấn vào lưng M, đẩy M cúi người xuống phía trước, chổng mông về phía T, T dùng tay phải cầm dương vật đang cương cứng của T đưa vào âm đạo của M từ phía sau và nhấp dương vật trong âm đạo, đưa ra đưa vào khoảng 4-5 phút có hiện tượng xuất tinh nên T rút dương vật ra và xuất tinh xuống đất, sau khi quan hệ tình dục xong cả hai tự kéo quần lên rồi về vị trí dựng xe, T đưa M về nhà M.
Tại thời điểm hai lần T S T thực hiện hành vi giao cấu đối với G T M, T chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự. Ngày 31/8/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra quyết định số 11/QĐ-CQĐT không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc trên theo quy định tại khoản 3, Điều 157 của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính Công an huyện S đề nghị Tòa án nhân dân huyện S áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T S T vào trường giáo dưỡng với thời gian 15 (mười năm) tháng.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính qua nghiên cứu hồ sơ, tính đến thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp vụ việc còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đảm bảo đúng đối tượng, đầy đủ các tài liệu. Việc đưa T S T vào trường giáo dưỡng là cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho T lao động, học tập dưới sự quản lý của trường giáo dưỡng để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện S xem xét, quyết định đưa vào trường giáo dưỡng đối với T S T thời hạn 10 (mười) tháng.
Người bị đề nghị T S T nhận thức rõ được hành vi quan hệ tình dục đối với G T M là vi phạm pháp luật, xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Người đại diện của T S T là ông T S H và bà H T M đều trình bày hành vi của cháu T đã vi phạm pháp luật, tại phiên họp hôm nay xin được cho cháu T đi giáo dưỡng thời hạn là 06 (sáu) tháng.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, xác định cơ quan đề nghị đã lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với T S T đúng theo trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính. Qúa trình điều tra, T S T và G T M còn khai nhận có quan hệ với nhau 02 lần nữa, một lần vào tháng 5 năm 2023 và một lần vào ngày 26 tháng 6 năm 2023, qua quá trình điều tra thì cả T và M đều thừa nhận rằng trong 02 lần quan hệ với nhau sau này thì hai bên chỉ ôm nhau chứ chưa thực hiện hành vi quan hệ tình dục, do không nhận thức rõ về việc quan hệ tình dục nên tại một số buổi làm việc đã trình bày là có quan hệ tình dục. Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Đối với T S T theo như trích lục khai sinh thì T S T sinh ngày 21/6/2008 nhưng khai sinh quá hạn, đăng ký khai sinh ngày 26/9/2012; do T đăng ký khai sinh quá hạn nên khó xác định độ tuổi, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trưng cầu trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai giám định về độ tuổi đối với T S T; tại Bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 08/KLGĐĐT-TTPY ngày 18/7/2023 đối với T S T kết luận: Qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng xác định T S T có độ tuổi là 14 năm 6 tháng đến 15 năm 06 tháng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 6 của Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi quy định “Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ”. Vì vậy vào thời điểm T S T thực hiện hành vi giao cấu với G T M trong tháng 11 năm 2022 thì T mới được 13 tuổi 10 tháng và trong tháng 12 năm 2022 thì T S T mới được 13 tuổi 11 tháng; theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật hình sự thì T S T không phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với T theo quy định tại khoản 3, Điều 157 của Bộ luật tố tụng hình sự và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T S T vào trường giáo dưỡng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về bồi thường dân sự: Quá trình xảy ra xô xát giữa T S T với G T M, ông G C được bố mẹ của M ủy quyền đại diện cho M yêu cầu gia đình T S T bồi thưởng tổn thất về tinh thần, danh dự, nhân phẩm và tổn hại sức khỏe cho G T M với tổng số tiền là 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) đồng thời yêu cầu gia đình T S T sửa lại chiếc điện thoại của M do T làm hư hỏng, ông Thào Seo Hồ bố đẻ của T S T đã đồng ý bồi thường cho G T M số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
Về tình tiết giảm nhẹ: T S T được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là người vi phạm hành chính đã tự khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại và tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi được quy định tại các khoản 1, 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: T S T phải chịu 02 tình tiết tăng nặng là vi phạm hành chính nhiều lần và vi phạm hành chính đối với trẻ em được quy định tại các điểm b,m khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về nhân thân: Tính đến ngày thực hiện hành vi vi phạm T S T chưa bị cơ quan nào xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật, chưa bị xét xử về tội gì; T S T chưa có tiền án, chưa có tiền sự. Do vậy từ tất cả các căn cứ trên, xét thấy mức đề nghị của Công an cho T S T vào trường giáo dưỡng với thời hạn 15 tháng là cao, không cần thiết; đối với ý kiến của người đại diện của T S T xin cho T được hưởng thời hạn giáo dưỡng 06 (sáu) tháng là thấp không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi vi phạm hành chính; với mức đề nghị của Viện kiểm sát cho T đi giáo dưỡng thời hạn 10 tháng là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật xử lý vi phạm hành chính được chấp nhận và cần thiết để giúp T S T được học văn hoá, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường.
Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S Cai: Đề nghị Tòa án căn cứ vào các khoản 1,2 Điều 9; điểm b,m khoản 1 Điều 10; các Điều 91, 92; 100; 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với T S T, thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 10 (mười) tháng.
Xét đề nghị của Cơ quan đề nghị; của Viện nhân dân là có căn cứ, đúng pháp luật quy định tại khoản 1,2 Điều 9; điểm b,m khoản 1 Điều 10, các Điều 91, 92 của Luật xử lý vi phạm hành chính nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng số 2 tại xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đối với T S T.
2. Thời hạn chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 10 (mười) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi trường giáo dưỡng.
3. Ông T S H, bà H T M, người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định; Công an huyện S, tỉnh Lào Cai có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có ai khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện S, tỉnh Lào Cai có trách nhiệm thi hành thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện S (2); - Trưởng CA huyện S (02); - UBND TT xã S C, h. S; - Người bị XLHC và người đd (3); - Lưu hồ sơ; VP; tập QĐ. | THẨM PHÁN Đã ký và đóng dấu Trần Bình Trọng |