- Tranh chấp gì? "Bùi Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn T, sinh năm 1973, nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh T tại Trung tâm cai nghiện ma túy và chăm sóc đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/QĐ - TA | Kiến Xương, ngày 14 tháng 3 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lý.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lương.
Ngày 14 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 01/2019/QĐ - TA ngày 08/3/2019 đối với:
Họ và tên: Bùi Văn T. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 05 tháng 3 năm 1973.
Chứng minh nhân dân số 151365604.
Nơi cấp: Công an tỉnh Thái Bình.
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 9/12
Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh T.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Bùi Văn S, sinh năm 1932 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1938.
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số 161/2014/HSST ngày 23/9/2014, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt Bùi Văn T 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành án xong ngày 06/02/2017, đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên bản xác minh ngày 31/01/2019.
Quyết định đưa người vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc 05 – 06 tỉnh Thái Bình số 1340/QĐ-UBND ngày 22/8/2011 đối với Bùi Văn T với thời hạn 12 tháng.
Bùi Văn T vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Minh Vượng - Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện K, tỉnh T.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh T: Bà Phạm Thị Duyên
- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Hành vi vi phạm của Bùi Văn T bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được xác định như sau:
Ngày 15/01/2019 Bùi Văn T bị Công an xã V lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại cơ quan Công an, Bùi Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình, T khai nhận bản thân sử dụng ma túy từ năm 2009, loại ma túy T sử dụng là Hêrôin, hình thức sử dụng là hít qua đường miệng vào cơ thể. Lần sử dụng ma túy gần đây nhất là vào ngày 12/01/2019 tại gia đình ở Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh T.
Kết quả xét nghiệm ma túy ngày 15/01/2019 và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 15/01/2019 của Bệnh viện tâm thần tỉnh Thái Bình xác định đối tượng Bùi Văn T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Morphine/Heroin.
Theo tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Bùi Văn T có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Ngày 24/4/2018 UBND xã V, huyện K, tỉnh T đã ra Quyết định số 02/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Bùi Văn T với thời hạn 03 tháng, ngày 24/7/2018 Bùi Văn T đã chấp hành xong. Xác minh tại trạm y tế xã V là điểm cấp phát thuốc Methadone thì Bùi Văn T uống Methadone từ 24/01/2018, hiện tại đang uống liều 1,5ml thi thoảng bỏ từ 01 đến 02 ngày.
Ngày 15/01/2019 Chủ tịch UBND xã V, huyện K, tỉnh T có quyết định giao Bùi Văn T cho gia đình quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 15/02/2019 Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện K, tỉnh T đã có văn bản số 02/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy và chăm sóc đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình đối với Bùi Văn T, thời hạn là 24 tháng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh T phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị được lập đúng quy định tại điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 02/LĐTBXH ngày 15/02/2019 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kiến Xương, thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY
Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T đã giao hợp lệ Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 01/2019/QĐ-TA ngày 08/3/2019 cho Bùi Văn T nhưng tại phiên họp Bùi Văn T vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo quy định.
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn T đã được thu thập tài liệu, xác minh, lập hồ sơ đủ căn cứ. Hồ sơ đã được Trưởng phòng tư pháp huyện Kiến Xương kiểm tra tính pháp lý và Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Kiến Xương có văn bản đề nghị về việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T. Hồ sơ đề nghị là hợp pháp theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và các Điều 03, 08, 09, 10, 11, 12, 13, 14 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Văn T đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây tác động tiêu cực đến công tác đấu tranh chống tệ nạn ma túy nói chung và trên địa bàn huyện Kiến Xương nói riêng.
Bùi Văn T đã 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bùi Văn T nhận thức rõ tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm sử dụng chất ma túy nhưng do không làm chủ được bản thân nên vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Tòa án xét thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy có tác động xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự phát triển trí tuệ, thể chất của con người, làm suy thoái đạo đức, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm. Bùi Văn T là đối tượng nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định, đã tham gia điều trị cai nghiện bằng uống Methadone nhưng vẫn sử dụng ma túy, UBND xã V, huyện K, tỉnh T đã ra Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 24/4/2018 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Bùi Văn T với thời hạn 03 tháng, sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, do thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân nên T vẫn tiếp tục sử dụng chất ma túy. Do đó việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn T như đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Kiến Xương và Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương là cần thiết và phù hợp với quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Điều 95. Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định:
1.Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định tại Điều 96 của Luật này để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng.
Khoản 1 Điều 96. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định:
1.Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.
Bùi Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Sau khi vi phạm đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình nên T được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi” theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, vì vậy cần giảm nhẹ một phần thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là đúng với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào các Điều 95, 96, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn T, sinh năm 1973, nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh T tại Trung tâm cai nghiện ma túy và chăm sóc đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Bùi Văn T có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện Kiến Xương có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày 14/3/2019.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện K, tỉnh T và Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện K, tỉnh T có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kiến Xương; - Phòng LĐ-TB-XH huyện Kiến Xương; - Trung tâm cai nghiện ma túy và chăm sóc đối tượng xã hội Thái Bình; - UBND xã V; - Người bị áp dụng; - Công an huyện Kiến Xương; - Lưu hồ sơ; | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thị Lý |