- Tranh chấp gì? "Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với NVG, NHP, TTL
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 100 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 99 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 01/QĐ-TA | Châu Phú, ngày 02 tháng 01 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào trường giáo dưỡng
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Yến Anh
2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Văn Quang.
Ngày 02 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định mở phiên họp số 70/QĐ-TA ngày 26 tháng 12 năm 2019 đối với:
1. Họ và tên: NVG (Chiến).
Sinh ngày 12 tháng 10 năm 2006.
Dân tộc: Kinh
Trình độ văn hóa: Lớp 7
Hộ khẩu thường trú: Ấp Bình Hưng 2, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang
Chỗ ở hiện nay: Ấp Bình Hưng 2, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền sự: Không.
Con ông: NVS và bà: BTC.
Có mặt tại phiên họp.
2. Họ và tên: NHP.
Sinh ngày 03 tháng 12 năm 2005.
Dân tộc: Kinh
Trình độ văn hóa: Lớp 3
Hộ khẩu thường trú: Ấp Bình Hưng 2, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp Bình Hưng 2, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền sự: Không
Con ông: NTT và bà: NTM.
Có mặt tại phiên họp.
3. Họ và tên: TTL.
Sinh ngày 29 tháng 4 năm 2007.
Dân tộc: Kinh
Trình độ văn hóa: Lớp 5
Hộ khẩu thường trú: Ấp Bình Hưng 1, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp Bình Hưng 1, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền sự: Không
Con ông: TVT và bà: LTT.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Thanh Tùng – Đội trưởng Đội cảnh sát hình sự Công an huyện CP. Theo văn bản ủy quyền ngày 01/01/2020.
2. Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân huyện CP: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.
3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng
- Ông NVS, sinh năm 1982 và bà BTC, sinh năm 1988, là cha mẹ đẻ của NVG. Cùng địa chỉ: Ấp Bình Hưng 2, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang. Là Người đại diện hợp pháp của NVG. (Có mặt)
- Ông NTT, sinh năm 1977 và bà NTM, sinh năm 1976, là cha mẹ đẻ của NHP. Cùng địa chỉ: Ấp Bình Hưng 2, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang. Là Người đại diện hợp pháp của NHP. (Có mặt)
- Ông TVT, sinh năm 1987 và bà LTT, sinh năm 1990, là cha mẹ đẻ của TTL. Cùng địa chỉ: Ấp Bình Hưng 1, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang. Là người đại diện hợp pháp của TTL. (Có mặt)
NHẬN THẤY:
Vào hồi 12 giờ ngày 15/11/2019, NHP, sinh ngày 03/12/2005, điều khiển xe đạp cùng NVG (Chiến) sinh ngày 12/10/2006, TTL sinh ngày 29/4/2007, đi từ Rạch Thầy Phó đến cầu Thầy Phó thì gặp LTCT (Tù lì) sinh ngày 15/6/2008 điều khiển xe đạp trên Quốc lộ 91 đi hướng Châu Đốc – Long Xuyên nên P rủ T đến đường lộ mới bắt chuột, T đồng ý. Khi đến khu vực đường lộ mới Tộc khu vực ấp Bình Thành, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang thì bắt được 02 con chuột. Lúc này, G nói với P và L “Bây giờ mình hiếp dâm con T”, P và L đồng ý nên G, L, P đè T nằm xuống đất, G và L cởi áo, quần của T ra. G, P, L bao chiếm xùm, ai Ta thì quan hệ tình dục với T trước, ai thắng quan hệ tình dục với T sau. Kết quả G Ta, còn L, P thắng. Từ đó, G tự cởi quần G ra và nằm đè lên người T quan hệ tình dục với T, P đè hai tay T, còn L nắm hai chân của T để cho G quan hệ tình dục với T khoảng 05 phút thì nghỉ. Sau đó, L tự cởi quần ra và nằm đè lên người T để quan hệ tình dục, L dùng hai tay đè hai tay của T, P dùng tay nắm hai chân của T để cho L quan hệ tình dục với T khoảng 01 phút thì nghỉ. P tự cởi quần ra đè lên người của T để quan hệ tình dục, G nắm hai tay của T đè xuống đất, L dùng tay nắm hai chân của T để cho P quan hệ tình dục với T khoảng 02 phút thì nghỉ. Thực hiện xong hành vi giao cấu với T, tất cả đi về nhà. T nói với mẹ ruột là Lê Thị Kim Rớt biết sự việc và bà Rớt báo Công an xã BM. Kết quả khám phụ khoa xác định T như sau: Âm hộ bị viêm đỏ, môi lớn bị viêm đỏ, màng trinh không rách nhưng dãn rộng đều.
Ngày 12 tháng 12 năm 2019, Công an huyện CP tỉnh An Giang báo cáo kết thúc điều tra: Qua điều tra, xác minh nhận thấy, ngày 15/11/2019, NHP sinh ngày 03/12/2005; NVG sinh ngày 12/10/2006 và TTL sinh ngày 29/4/2007 cùng thực hiện hành vi hiếp dâm LTCT (Tù lì) sinh ngày 16/6/2008. P, G, L đã có hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 142 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, tính đến ngày thực hiện hành vi vào ngày 15/11/2019 thì cả P, G, L đều chưa đủ 14 tuổi. Căn cứ khoản 3 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CP báo cáo kết thúc điều tra, ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Đồng thời làm thủ tục đưa P, G, L vào trường giáo dưỡng đúng theo quy định pháp luật.
Công an huyện CP đã gửi Văn bản số: 1227/BC-CSHS ngày 23 tháng 12 năm 2019 cùng toàn bộ hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa G, P, L vào trường giáo dưỡng số 4, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai với thời hạn đến 24 tháng.
Tại phiên họp.
Đại diện Công an huyện CP vẫn giữ nguyên yêu cầu áp dụng biện pháp đưa G, P, L vào trường giáo dưỡng tại địa chỉ số 4, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, với thời hạn đến 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP sau khi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với NVG, NHP, TTL. Qua xem xét đề nghị của Công an huyện CP trong việc xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng. Nhận thấy, về hành vi của L, P, G đã có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh G, P, L cùng thực hiện hành vi hiếp dâm LTCT là người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên, xem xét các tài liệu, chứng cứ có đủ căn cứ xác định độ tuổi của G, P, L chưa đủ tuổi (dưới 14 tuổi) chịu trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đồi bổ sung năm 2017 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CP không khởi tố và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với G, P, L là đúng với quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 99 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về trình tự, thủ tục tiến hành mở phiên họp xem xét đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tại Tòa án đã thực hiện đúng theo Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đề nghị Tòa án xem xét, chấp nhận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giao dưỡng đối với G, P, L theo đề nghị của Công an huyện CP, đồng thời có xem xét tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ cho G, P, L để quyết định thời hạn chấp hành tại trường giáo dưỡng phù hợp với tính chất vụ việc.
Ý kiến của người bị đề nghị: Các đối tượng G, P, L thừa nhận hành vi hiếp dâm T, đồng ý vào trường giáo dưỡng theo đề nghị của Công an huyện CP.
Đại diện hợp pháp của người bị đề nghị:
- Ông NVS, bà BTC, là cha mẹ đẻ của NVG; ông NTT, bà NTM, là cha mẹ đẻ của NHP; ông TVT, bà LTT, là cha mẹ đẻ của TTL, đều đồng ý với việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo đề nghị của cơ quan Công an huyện CP.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng của Công an huyện CP đối với NVG, NHP, TTL đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục tại Điều 99 và Điều 100 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào kết quả điều tra, các tài liệu chứng cứ đã T thập được, bản tự khai của NVG, NHP, TTL tại cơ quan Công an huyện CP và tại phiên họp đã có căn cứ xác định G, P, L có hành vi hiếp dâm LTCT, sinh ngày 16/6/2008. Cụ thể: Vào ngày 15/11/2019, các đối tượng G, P, L đã thực hiện hành vi hiếp dâm đối với T; G, P, L đều khai nhận do G rủ P và L hiếp dâm T, thì P và L đồng ý, cả ba bao chiếm xùm thống nhất ai thắng sẽ thục hiện hành vi quan hệ tình dục với T trước. Kết quả, G Ta nên G quan hệ tình dục với T trước, P và L giữ tay và chân T cho G quan hệ tình dục, lần lượt đến lượt P và L quan hệ tình dục với T. Lời khai của G, P, L trong quá trình điều tra, lập hồ sơ vụ án và tại phiên họp hoàn toàn phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, đối tượng bị xâm phạm. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định NVG, NHP, TTL đã có hành vi hiếp dâm LTCT là người dưới 16 tuổi là hành vi có dấu hiệu của một tội đặc biệt nghiêm trọng do cô ý được quy định tại khoản 3 Điều 142 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đồi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, xét thấy đến ngày thực hiện hành vi vi phạm thì G, P, L đều chưa đủ 14 tuổi, đối chiếu với quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện CP phát hiện, điều tra, thụ lý vụ việc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và Tộc trường hợp đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng là cần thiết và phù hợp với quy định pháp luật. Tuy nhiên, có xem xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vai trò của từng đối tượng để áp dụng thời hạn chấp hành cho phù hợp. Về tình tiết tăng tặng, vụ việc có tình chất đồng phạm, nhiều người hiếp một người, đối tượng bị xâm phạm dưới 13 tuổi; về tình tiết giảm nhẹ thì P, G, L thành khẩn, biết lỗi và hứa quyết tâm sửa đổi, hoàn cảnh gia đình của các đối tượng khó khăn, thiếu sự chăm sóc dạy dỗ của cha mẹ. Về vai trò từng đối tượng như sau: G là người rủ rê, đề xuất thực hiện hành vi xâm phạm đối với T, độ tuổi của P thì lớn hơn so với G và L. Do vậy, có xem xét thời hạn chấp hành cho phù hợp, có thể buộc G và P chấp hành thời hạn bằng nhau. Riêng đối với L tham gia thực hiện hành vi nhưng độ tuổi thấp hơn so với G và P nên có xem xét thời hạn chấp hành của L thấp hơn G và P.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ: Điều 22, Điều 23 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 9, điểm a, m khoản 1 Điều 10, khoản 1 Điều 92, khoản 2 Điều 99, khoản 2 Điều 100, Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với NVG, NHP, TTL
2. Thời gian chấp hành tại trường giáo dưỡng như sau:
- NVG (Chiến), sinh ngày 12/10/2006 là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào trường giáo dưỡng.
- NHP, sinh ngày 03/12/2005 là 16 (mười sáu) tháng , kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào trường giáo dưỡng.
- TTL, sinh ngày 29/4/2007 là 12 (mười hai) tháng , kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào trường giáo dưỡng.
3. Đại diện hợp pháp của P, L, G có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Công an huyện CP có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện CP có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ quan thi hành án hình sự của Công an huyện CP, trường giáo dưỡng số 4, Tộc xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Công an huyện CP; - Cơ quan THAHS của Công an huyện CP; - Trường giáo dưỡng; - VKS huyện CP; - Lưu hồ sơ./. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Yến Anh |