vanban.org

Quyết định 01/2026/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai.

Tuyên bố: Hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L phải chấm dứt quan hệ vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hội liên hiệp phụ nữ xã B- Chảo Tả M, Vàng Láo L"
  • Tòa quyết gì? Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2026/QĐST-HNGĐLào Cai, ngày 03 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật”

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Thanh Hương

Thư ký phiên họp: Bà Cao Hải Lanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7

- Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai. Mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 10/2026/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2026 về việc “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/QĐ-TA ngày 26 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện: Bà Vũ Minh Nguyệt – sinh năm 1983; chức vụ: Chủ Tịch

Địa chỉ: thôn 4, xã B, tỉnh Lào Cai.

(vắng mặt tại phiên họp và có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Chảo Tả M - sinh ngày 11/4/1996

Địa chỉ: thôn V, xã B, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt và có đơn xin giải quyết

vắng mặt).

+ Anh Vàng Láo L - sinh ngày 18/4/1997

Địa chỉ: thôn V, xã B, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt và có đơn xin giải quyết

vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 09/3/2026 và bản tự khai của người đại diện theo pháp luật Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B bà Vũ Minh Nguyệt trình bày: Ngày 27/02/2017 Ủy ban nhân dân xã Phìn Ngan, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (cũ) nay là xã B, tỉnh Lào Cai đã làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh Vàng Láo L và chị Chảo Tả M theo giấy Chứng nhận kết hôn số 08/2017 ngày 27/02/2017. Trong quá trình xác minh để làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh Vàng Láo L và chị Chảo Tả M, Uỷ ban nhân dân xã Phìn Ngan không phát hiện được tại thời điểm đăng ký kết hôn anh Vàng Láo L sinh năm 1996. Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn do có sự nhầm lẫn nên anh Vàng Láo L khai sai năm sinh. Anh Vàng Láo L khai sinh năm 1996 nên tại thời điểm đăng ký kết hôn thì đảm bảo độ tuổi theo quy định. Tuy nhiên trên thực tế căn cứ vào giấy tờ tùy thân của anh Vàng Láo L như Trích lục khai sinh, căn cước công dân, bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, xác nhận thông tin về nơi cư trú của Công an xã B, tỉnh Lào Cai thì phát hiện anh Vàng Láo L đều sinh ngày 18/4/1997 thì lúc đăng ký kết hôn anh Vàng Láo L mới được 19 tuổi 01 tháng 27 ngày. Do đó, tại thời điểm đăng ký kết hôn anh Vàng Láo L chưa đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014. Ngoài ra anh Vàng Láo L không vi phạm điều kiện kết hôn nào khác của Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy người đại diện theo pháp luật Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B bà Vũ Minh Nguyệt đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai xem xét hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Vàng Láo L và chị Chảo Tả M theo giấy chứng nhận kết hôn số 08/2017 được Ủy ban nhân dân xã Phìn Ngan, huyện Bát Xát (cũ) cấp ngày 27/02/2017 theo quy định của pháp luật.

2. Theo bản tự khai của chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L đều trình bày: Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn, do có sự nhầm lẫn anh Vàng Láo L khai sinh năm 1996 nên tại thời điểm đăng ký kết hôn thì đảm bảo độ tuổi theo quy định. Thực tế anh Vàng Láo L sinh ngày 18/4/1997 nay căn cứ vào các giấy tờ tùy thân như căn cước công dân, bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, xác nhận thông tin về nơi cư trú của Công an xã B, Giấy khai sinh đã vi phạm điều kiện kết hôn là chưa đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi kết hôn chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong làm ăn kinh tế, nuôi dậy con cái dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống không có hạnh phúc, chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay không có quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Nay Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L thì anh chị đều nhất trí.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L có với nhau 03 con chung cháu Vàng Tú T - sinh ngày 03/9/2017 và cháu Vàng Thu N - sinh ngày 10/6/2019, cháu Chảo Kiêm P – sinh ngày 04/5/2023, chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L nhất trí việc hủy kết hôn trái pháp luật và đề nghị Tòa án công nhận việc nuôi con như sau: Anh Vàng Láo L trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc hai cháu Vàng Tú T - sinh ngày 03/9/2017 và cháu Vàng Thu N - sinh ngày 10/6/2019 đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Chảo Tả M trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Chảo Kiêm P – sinh ngày 04/5/2023 đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo Tả không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về tài sản chung: chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L xác nhận trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Lào Cai phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến phiên họp hôm nay: Thẩm phán, Thư ký đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật, người yêu cầu chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng giải quyết việc dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị:

Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 367; điểm h Khoản 1 Điều 369; Điều 370; Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị giải quyết theo hướng:

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận yêu cầu của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai, Người đại diện: Bà Vũ Minh Nguyệt hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L.

Hậu quả pháp lý của việc huỷ hôn nhân trái pháp luật: Chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L phải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Giao Vàng Tú T - sinh ngày 03/9/2017 và cháu Vàng Thu N - sinh ngày 10/6/2019 cho anh Vàng Láo L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Giao cháu Chảo Kiêm P – sinh ngày 04/5/2023 cho chị Chảo Tả M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng người không trực tiếp nuôi con chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo Tả không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về lệ phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 146 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai không phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai theo quy định tại Điều 29, Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên họp, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai người đại diện bà Vũ Minh Nguyệt và chị Chảo Tả M, anh Vàng Láo L đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tại phiên họp, căn cứ khoản 2, 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vắng mặt người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Kèm theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, người yêu cầu đã nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2017, ngày 27/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã Phìn Ngan, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (nay là xã B, tỉnh Lào Cai) có ghi anh Vàng Láo L, sinh năm 1996. Tuy nhiên, người yêu cầu cung cấp các tài liệu, chứng cứ gồm bản sao Căn cước công dân, bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, xác nhận thông tin về nơi cư trú của Công an xã B, trích lục khai sinh đều thể hiện anh Vàng Láo L, sinh ngày 18/4/1997. Do đó tại thời điểm đăng ký kết hôn anh Vàng Láo L đã vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi kết hôn anh Vàng Láo L mới 19 tuổi 01 tháng 27 ngày theo quy định tại điểm a Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định thì “ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L là trái pháp luật. Vì vậy việc Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L là có căn cứ đúng theo quy định tại điểm a Điều 8; điểm d khoản 2 Điều 10, khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC- VKSNDTC- BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L.

. Về hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Tại bản tự khai chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L đều xác nhận anh chị phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không hòa thuận không có hạnh phúc, đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay không có quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế nên Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai đề nghị Tòa án giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật anh chị đều nhất trí, căn cứ vào khoản 1 Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L phải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

. Về con chung: Chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L có với nhau 03 con chung cháu cháu Vàng Tú T - sinh ngày 03/9/2017 và cháu Vàng Thu N - sinh ngày 10/6/2019, cháu Chảo Kiêm P – sinh ngày 04/5/2023 nên khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L nhất trí việc hủy kết hôn trái pháp luật và đề nghị Tòa án công nhận việc nuôi con như sau: Anh Vàng Láo L trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc hai cháu Vàng Tú T - sinh ngày 03/9/2017 và cháu Vàng Thu N - sinh ngày 10/6/2019 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Chị Chảo Tả M trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Chảo Kiêm P – sinh ngày 04/5/2023 đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tài sản: Chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai không phải chịu lệ phí yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367; điểm h Khoản 1 Điều 369; Điều 370; Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 8, điểm d khoản 2 Điều 10, Điều 11, Điều 12; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên bố:

1.Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai.

Tuyên bố: Hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L.

Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L phải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Về quan hệ con chung: Giao Vàng Tú T - sinh ngày 03/9/2017 và cháu Vàng Thu N - sinh ngày 10/6/2019 cho anh Vàng Láo L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Giao cháu Chảo Kiêm P – sinh ngày 04/5/2023 cho chị Chảo Tả M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng người không trực tiếp nuôi con chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Chảo Tả M và anh Vàng Láo Tả không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. 2.Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã B, tỉnh Lào Cai không phải chịu tiền lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ