vanban.org

Quyết định 01/2025/QĐST-VDS — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi của chị Nguyễn Khánh D. Tuyên bố chấm dứt nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi là ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ với con nuôi là chị Nguyễn Khánh D.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ với con nuôi là chị Nguyễn Khánh D chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ là ông Nguyễn Tuấn H và bà Nguyễn Thị T với con đẻ là chị Nguyễn Khán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định chấm dứt nuôi con nuôi Nguyễn Khánh D - NGuyễn Thành N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi của chị Nguyễn Khánh D. Tuyên bố chấm dứt nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi là ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ với con nuôi là chị Nguyễn Khánh D.
  • Căn cứ chính? Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2025/QĐST-VDS
Ngày 09 tháng 4 năm 2025
“V/v Chấm dứt nuôi con nuôi”

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Oanh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 77/2025/TLST- VDS ngày 21 tháng 3 năm 2025 về việc “Yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2025/QĐST- QĐPH ngày 25 tháng 3 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Chị Nguyễn Khánh D năm sinh 2002; Địa chỉ: Khu phố C, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Có mặt).

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành N năm sinh 1950 và bà Nguyễn Thị Đ sinh năm 1952; Cùng địa chỉ: Thôn P, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (bố mẹ nuôi); Ông Nguyễn Tuấn H năm sinh 1967 và bà Nguyễn Thị T sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: TDP phố C, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (bố mẹ đẻ). (Đều có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu việc dân sự và các lời khai tại Tòa án người yêu cầu chị Nguyễn Khánh D trình bày: Chị là con gái đẻ của ông Nguyễn Tuấn H và bà Nguyễn Thị T. Năm 2002 bố mẹ chị sinh chị và chị ở cùng với bố mẹ đẻ cho đến năm 2005, do điều kiện gia đình nên bố mẹ chị đã cho chị làm con nuôi của ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ (cô ruột của bố chị) vì lý do bà Đ không có con. Khi cho chị làm con nuôi thì giữa bố mẹ đẻ và bố mẹ nuôi có văn bản thỏa thuận nên UBND xã T cũ (nay là thị trấn V) có ban hành Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 02/QĐ-UBND ngày 12/12/2005 về việc công nhận ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ là cha mẹ nuôi của chị. Sau khi làm thủ tục cho chị là con nuôi của ông N, bà Đ thì chị vẫn ở cùng bố mẹ đẻ chị cho đến nay. Giữa chị với bố mẹ nuôi và bố mẹ đẻ không có mâu thuẫn gì. Cho đến nay vì chị đã trưởng thành có gia đình riêng nên chị có nguyện vọng muốn chấm dứt nuôi con nuôi với bố mẹ nuôi và bố mẹ nuôi cùnng đồng ý. Vì vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi giữa chị với ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ để chị được trở lại làm con đẻ của ông Nguyễn Tuấn H và bà Nguyễn Thị T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

1. Ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Ông bà là em gái và em dể của bố ông Nguyễn Tuấn H, năm 2002 vợ chồng ông H và bà T có sinh con gái là cháu Nguyễn Khánh D, đến năm 2005 do quan hệ gia đình là anh em trong nhà, vợ chồng ông bà không có con chung nên ông bà có thỏa thuận cùng nhau là ông H và bà T cho vợ chồng ông bà làm bố mẹ nuôi của cháu Nguyễn Khánh D, vì vậy UBND xã T (nay là thị trấn V) có ban hành Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 02/QĐ-UBND ngày 12/12/2005 với nội dung là công nhận ông bà là cha mẹ nuôi của cháu Nguyễn Khánh D. Tuy nhiên sau khi làm thủ tục nhận nuôi con nuôi nhưng cháu D vẫn ở cùng bố mẹ đẻ là ông H và bà T cho đến nay. Giữa các bên không có mâu thuẫn gì. Hiện nay cháu D đã trưởng thành có gia đình riêng nên có nguyện vọng muốn chấm dứt nuôi con nuôi với ông bà, quan điểm của ông bà cũng đồng ý đề nghị Tòa án ra quyết định chấm dứt nuôi con nuôi giữa các bên để tạo điều kiện cho cháu D trong công việc cũng như trong sinh hoạt hàng ngày.

2. Ông Nguyễn Tuấn H và bà Nguyễn Thị T trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ của cháu Nguyễn Khánh D, năm 2005 do quan hệ gia đình vợ chồng ông N và bà Đ không có con chung nên ông bà có thỏa thuận cho vợ chồng ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ làm bố mẹ nuôi của cháu Nguyễn Khánh D, vì vậy UBND xã T (nay là thị trấn V) có ban hành Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 02/QĐ-UBND ngày 12/12/2005 với nội dung là công nhận ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ là cha mẹ nuôi của cháu Nguyễn Khánh D. Sau khi làm thủ tục nhận nuôi con nuôi thì cháu D vẫn ở cùng vợ chồng ông bà và do vợ chồng ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay. Hiện nay cháu D đã trưởng thành có gia đình riêng nên có nguyện vọng muốn chấm dứt nuôi con nuôi với ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ thì quan điểm của ông bà cũng đồng ý đề nghị Tòa án ra quyết định chấm dứt nuôi con nuôi giữa vợ chồng ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị Đ với cháu Nguyễn Khánh D để tạo điều kiện cho cháu D trong công việc cũng như trong sinh hoạt hàng ngày.

Tại phiên họp quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường trình bày: Về thủ tục tố tụng, thẩm phán và thư ký Tòa án và các đương sự thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm gì. Về quan điểm giải quyết vụ việc dân sự: Đề nghị áp dụng 1 Điều 25, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi 2010Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Khánh D, tuyên bố chấm dứt nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi là ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị Đ với con nuôi là chị Nguyễn Khánh D. Chị Nguyễn Khánh D phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường nhận định:

. Về thủ tục tố tụng dân sự: Chị Nguyễn Khánh D có đơn yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi với bố mẹ nuôi theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Bộ luật tố tụng Dân sự nên Tòa án thụ lý theo trình tự việc dân sự theo quy định tại Điều 363 Bộ luật tố tụng Dân sự. Ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ đang cư trú tại xã T cũ (nay là thị trấn V), huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ việc: Năm 2005 do quan hệ tình cảm gia đình, vợ chồng ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ không có con chung nên ông Nguyễn Tuấn H và bà Nguyễn Thị T đã cho chị Nguyễn Khánh D sinh năm 2002 (là con gái đẻ) làm con nuôi của ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ. Việc nuôi con nuôi đã được sự đồng ý của bên cho làm con nuôi, bên nhận con nuôi và con nuôi, đồng thời các bên có làm thủ tục hợp pháp tại UBND xã T (nay là thị trấn V), huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc theo đúng quy định pháp luật vào thời điểm nhận nuôi con nuôi, được thể hiện bằng Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 02/QĐ-UBND ngày 12/12/2005 của UBND xã T (nay là thị trấn V), huyện V. Sau khi làm thủ tục nhận nuôi con nuôi thì chị Nguyễn Khánh D vẫn ở cùng với bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Tuấn H và bà Nguyễn Thị T cho đến nay. Quá trình chung sống các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau, không có mâu thuẫn gì.

Hiện nay do chị Nguyễn Khánh D đã thành niên nên chị D và bố mẹ nuôi, bố mẹ đẻ đã tự nguyện đồng ý chấm dứt nuôi con nuôi. Căn cứ vào khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi 2010định về việc chấm dứt nuôi con nuôi có quy định “Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi”. Xét thấy yêu cầu của chị Nguyễn Khánh D là tự nguyện, và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 25, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi 2010Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.

. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Khánh D phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 25, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi 2010Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi của chị Nguyễn Khánh D. Tuyên bố chấm dứt nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi là ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ với con nuôi là chị Nguyễn Khánh D.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị Đ với con nuôi là chị Nguyễn Khánh D chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ là ông Nguyễn Tuấn H và bà Nguyễn Thị T với con đẻ là chị Nguyễn Khánh D được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Khánh D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị D đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí yêu cầu việc dân sự theo biên lai số AA/2020/0005464 ngày 21/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Nay chuyển thành lệ phí giải quyết việc dân sự.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo Quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ