vanban.org

Quyết định 01/2025/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 05/03/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Đình C về việc tuyên bố bà Trần Thị Hòa là đã chết.

Tuyên bố: Bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1966, nơi cư trú cuối cùng: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội đã chết. Bà Hòa chết ngày 01 tháng 01 năm 2003. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về Hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố: Bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1966, nơi cư trú cuối cùng: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội đã chết. Bà Hòa chết ngà…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Đình C về việc tuyên bố bà Trần Thị Hòa là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/ 2025/QĐST-DSĐan Phượng, ngày 05 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Tuyên bố một người đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Tuyết

- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 82/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về yêu cầu tuyên bố một người đã chết theo Quyết định mở phiên họp số 01/2025/QĐST-VDS ngày 24 tháng 02 năm 2025.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Đình C, sinh năm 1960; Địa chỉ: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị T, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn 1, xã Thượng M, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Ông Trần Đình T, sinh năm 1967; Địa chỉ: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Ông Trần Đình T, sinh năm 1970; Địa chỉ: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

Người được ông Trần Đình C, ông Trần Đình T ủy quyền tham gia tố tụng là: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1963; Địa chỉ: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; có mặt.

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Ông Trần Đình C yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1966; Nơi cư trú cuối cùng: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội là đã chết.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Ông Trần Đình C trình bày: Ông là con của cụ Trần Tuyết, sinh năm 1934 (chết năm 2017) và cụ Nguyễn Thị Quý, sinh năm 1938 (chết năm 1997). Bố mẹ ông sinh được 05 người con gồm:

- Ông là Trần Đình C, sinh năm 1960; Địa chỉ: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

- Bà Trần Thị T, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn 1, xã Thượng M, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

- Bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1966; Nơi cư trú cuối cùng: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

- Ông Trần Đình T, sinh năm 1967; Địa chỉ: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

- Ông Trần Đình T, sinh năm 1970; Địa chỉ: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

Bà Trần Thị Hòa sinh ra và lớn lên tại Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng. Khoảng năm 1997 bà Hòa bỏ nhà đi, từ đó đến nay gia đình ông đã đi tìm kiếm ở nhiều nơi nhưng không có tin tức của bà Hòa. Trước khi bà Hòa bỏ đi bà Hòa chưa xây dựng gia đình với ai, không chung sống với ai như vợ chồng, không có con cái gì. Nay ông đề nghị Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1966; Nơi cư trú cuối cùng: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội là đã chết.

Bà Trần Thị T, ông Trần Đình T, ông Trần Đình T vắng mặt tại phiên họp nhưng có bản tự khai:

Về huyết thống gia đình ông Cường trình bày là đúng: Quá trình chung sống thì bà Trần Thị Hòa sinh ra, lớn lên và có hộ khẩu tại Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Đến khoảng năm 1997 bà Hòa đã bỏ nhà đi biệt tích không rõ bà Hòa đi đâu. Từ đó đến nay gia đình đã đi tìm kiếm ở nhiều nơi nhưng không có tin tức của bà Hòa. Trước khi bà Hòa bỏ đi thì bà Hòa chưa xây dựng gia đình với ai, không chung sống với ai như vợ chồng, không có con cái gì. Nay ông Cường đề nghị Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1966; Nơi cư trú cuối cùng: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội là đã chết, các ông, bà nhất trí đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo yêu cầu của ông Cường.

Tại phiên họp, bà Nguyễn Thị Bảy (vợ ông Cường), được ông Trần Đình C, ông Trần Đình T ủy quyền tham gia tố tụng giải quyết việc dân sự, giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Hòa là đã chết.

Bà Trần Thị T, ông Trần Đình T vắng mặt tại phiên họp.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý việc dân sự theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 68, 71 Bộ luật Dân sự; Điều 385, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đề nghị Tòa án: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trần Đình C. Tuyên bố bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1966; Địa chỉ cư trú cuối cùng: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội là đã chết, kể từ ngày 01/01/2003. Đại diện gia đình ông Cường thực hiện việc đăng ký khai tử cho bà Hòa theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà Hòa (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Về lệ phí: Ông Trần Đình C là người cao tuổi nên không phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội nhận định:

Ông Trần Đình C yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Hòa đã chết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị T, ông Trần Đình T, ông Trần Đình T đều nhất trí như ý kiến của ông Cường.

Về yêu cầu của ông Trần Đình C, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xét thấy: Trong quá trình giải quyết việc dân sự ông Trần Đình C cung cấp: Biên bản xác minh về tình trạng nhân thân; Bản sao Trích lục khai tử của cụ Nguyễn Thị Quý, cụ Trần Tuyết; Bản sao CCCD của ông Trần Đình C, bà Nguyễn Thị B, bà Trần Thị T, ông Trần Đình T, ông Trần Đình T; Bản sao Giấy khai sinh của ông Cường, bà Thịnh, bản sao trích lục khai sinh của ông Thích, bản phô tô giấy khai sinh của ông Thái.

. Xét yêu cầu của ông Trần Đình C yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị Hòa đã chết. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Cường. Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng đã ra thông báo tìm kiếm bà Trần Thị Hòa trên các phương tiện thông tin đại chúng: Đăng báo 03 số liên tiếp vào các ngày 18, 19, 20 tháng 10 năm 2024; Thông báo tìm kiếm bà Hòa trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 số liên tiếp vào các ngày 19, 20, 21 tháng 10 năm 2024; Đăng trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, nhưng kể từ ngày thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố bà Hòa đã chết cho đến nay Tòa án vẫn không nhận được tin tức gì của bà Trần Thị Hòa.

Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú cuối cùng của bà Trần Thị Hòa thì có căn cứ khẳng định bà Trần Thị Hòa đã bỏ nhà đi từ năm 1997 cho đến nay, gia đình cũng đã tìm kiếm ở nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà Trần Thị Hòa.

Nay ông Trần Đình C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng tuyên bố bà Trần Thị Hòa đã chết, yêu cầu của ông Cường là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về ngày chết của bà Trần Thị Hòa: Theo đơn của ông Trần Đình C và biên bản xác minh tại UBND xã Tân H thì bà Trần Thị Hòa bỏ đi từ năm 1997, không xác định rõ được ngày tháng bỏ đi. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, Tòa án xác định ngày bà Hòa mất tích là ngày 01/01/1998. Vì vậy xác định ngày bà Hòa chết là ngày 01/01/2003.

. Về lệ phí việc dân sự: Ông Trần Đình C phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật. Do ô ng Trần Đình C là người cao tuổi nên không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 149, 361, 371, 372, 391 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Đình C về việc tuyên bố bà Trần Thị Hòa là đã chết.

Tuyên bố: Bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1966, nơi cư trú cuối cùng: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội đã chết. Bà Hòa chết ngày 01 tháng 01 năm 2003.

2. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về Hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Trần Thị Hòa được giải quyết như đối với người đã chết.

3. Tài sản của bà Trần Thị Hòa được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Trần Đình C là người cao tuổi nên không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Ông Trần Đình C, ông Trần Đình T có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

Bà Trần Thị T, ông Trần Đình T có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

Cỡ chữ