vanban.org

Quyết định 01/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Hải Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh An Giang.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 01/7/2025. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Công an xã T có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh An… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trương Hải Đăng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Hải Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh An Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2025/QĐ-TAAn Giang, ngày 18 tháng 7 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Phương.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đinh Như Ngọc.

Ngày 18 tháng 7 năm 2025, tại Phòng họp Tòa án nhân dân khu vực 8 – cơ sở 2, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bằng hình thức trực tuyến theo Quyết định mở phiên họp số 01/QĐ-TA ngày 07 tháng 7 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Trương Hải Đ

Sinh ngày 19 tháng 11 năm 2000.

Căn cước công dân số: 091200011449; Ngày cấp: 29/3/2023, Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội.

Dân tộc: kinh.

Tôn giáo: không.

Trình độ văn hóa: 02/12.

Quê quán: xã Đ, tỉnh An Giang.

Nơi thường trú: ấp X, xã Đ, tỉnh An Giang.

Chỗ ở: không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: làm thuê.

Tiền án: không.

Tiền sự: không.

Nhân thân: Năm 2019 bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc 12 tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang. Năm 2022 bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc 18 tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang.

Con ông Trương Thanh B và bà Danh Thị Ngọc H.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Tấn Tài – Phó Trưởng Công an xã T theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2025 của Trưởng công an xã T.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hoàng Thành - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 26/6/2025, Trương Hải Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Tổ A ấp H, xã T, tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang) và bị Công an xã T lập biên bản vi phạm hành chính. Qua xác định tình trạng nghiện ma túy xác định Trương Hải Đ có nghiện ma túy loại Methamphetamine nhưng Đ không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, gia đình không đồng ý quản lý Đ trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên Công an xã T đã ban hành Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và giao Trương Hải Đ cho Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh An Giang quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị từ ngày 01/7/2025.

Ngày 01/7/2025, Trưởng Công an xã T ban hành đề nghị số 09/ĐN-CAX về việc xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc đối với Trương Hải Đ.

Tại phiên họp, đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an xã T vẫn giữ nguyên quan điểm, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trương Hải Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 phát biểu quan điểm về quá trình thành lập hồ sơ và đề nghị của Cơ quan Công an xã T, việc thụ lý hồ sơ và việc tuân theo quy định pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị tại phiên họp đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Đề nghị Toà án chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã T, đưa Trương Hải Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng. Trương Hải Đ thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đồng ý tiếp tục ở lại Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh An Giang để cắt cơn, cai nghiện.

XÉT THẤY:

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Hải Đ là phù hợp với Luật phòng chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào Đăng giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Căn cứ biên bản vi phạm hành chính do Công an xã T, khu vực 8 lập ngày 01/7/2025 và phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã T ngày 01/7/2025, xác định Trương Hải Đ có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Đồng thời tại bản tường trình và biên bản làm việc cũng như tại phiên họp Trương Hải Đ đều thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy nên có đủ căn cứ xác định Trương Hải Đ có hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy và có nghiện ma túy Methamphetamine. Do Trương Hải Đ không có nơi cư trú ổn định, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên Công an xã T lập hồ sơ đề nghị đưa Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ.

Xét thấy, Trương Hải Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm khoản 5 Điều 5 Luật Phòng chống ma túy. Trương Hải Đ là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hành chính, có đủ nhận thức về tác hại nguy hiểm của ma túy, sử dụng ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý vi phạm nên việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết. Vì các lẽ trên, Căn cứ Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Căn cứ khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020;

Căn cứ Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

Căn cứ Điều 7, Điều 8, Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào Đăng giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Căn cứ Điều 3, Điều 23 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Hải Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh An Giang.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 01/7/2025.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Công an xã T có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã T; Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh An Giang có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ