- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Nguyên Thành N - Trần Thị Phước L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của anh Nguyễn Nguyên Thành N:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2024/QĐST - VHNGĐ | Đất Đỏ, ngày 04 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Mỹ Dung
Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Hoàn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tùng Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 27/TB-TLVHNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2024/QĐST-VDS ngày 21 tháng 3 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Nguyên Thành N, sinh năm 2000; địa chỉ: khu phố H, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị Kim D, sinh năm 1972 và ông Trần Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố Lộc An, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
+ Bà Trần Thị Phước L, sinh năm 1978 và ông Nguyễn Nguyên Tiến D1, sinh năm: 1977; địa chỉ: khu phố H, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 19/02/2024 và bản tự khai, người yêu cầu anh Nguyễn Nguyên Thành N trình bày:
Anh là con ruột của ông Trần Văn B, bà Trần Thị Kim D. Năm 2013, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh đã sống cùng với vợ chồng dì ruột là ông Nguyễn Nguyên Tiến D1 và bà Trần Thị Phước L. Ngày 21/8/2013, cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi của anh đã cùng nhau ra UBND thị trấn Phước Hải làm thủ tục nuôi con nuôi, đồng thời đổi tên giấy khai sinh từ tên Trần Thành N thành Nguyễn Nguyên Thành N.
Nay anh có nguyện vọng về sống với cha mẹ ruột là ông Nguyễn Nguyên Tiến D1, bà Trần Thị Phước L và yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi với ông Nguyễn Nguyên Tiến D1, bà Trần Thị Phước L và không có ý kiến gì thêm.
- Ý kiến của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Nguyên Tiến D1, bà Trần Thị Phước L: Năm 2013, ông bà có nhận nuôi cháu Trần Thành N, là con ruột của ông Trần Văn B, Trần Thị Kim D. Do bà L là dì ruột của cháu N và cháu muốn sống với dì nên ông bà đồng ý để cho cháu làm con nuôi. Sau khi bàn bạc cha mẹ ruột cháu N thống nhất để ông bà làm cha mẹ nuôi của cháu. Ngày 21/8/2013, tại UBND thị trấn Phước Hải, các bên có mặt làm thủ tục nuôi con nuôi, giấy khai sinh cho cháu N, đồng thời đổi tên cháu từ tên Trần Thành N thành Nguyễn Nguyên Thành N. Nay cháu N có nguyện vọng về sống với cha mẹ ruột và yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi, ông bà đồng ý và không có ý kiến gì thêm.
+ Ông Trần Văn B, bà Trần Thị Kim D: Ông bà là cha mẹ ruột của cháu Nguyễn Nguyên Thành N. Năm 2013, ông bà có cho dì ruột của cháu N là bà L và ông D1 nhận nuôi cháu. Sau khi bàn bạc đã thống nhất để vợ chồng bà L và ông D1 làm cha mẹ nuôi của cháu N và làm thủ tục nuôi con nuôi tại UBND thị trấn Phước Hải ngày 21/8/2013, đồng thời đổi tên cháu từ tên Trần Thành N thành Nguyễn Nguyên Thành N. Nay cháu N có nguyện vọng về sống với cha mẹ ruột và yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi với ông D1, bà L thì ông bà đồng ý và không có ý kiến gì thêm.
- Tại phiên họp hôm nay:
+ Người yêu cầu ông Nguyễn Nguyên Thành N vẫn giữ nguyên yêu cầu.
+ Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin giải quyết vắng mặt..
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đối với các đương sự cũng đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Nguyên Thành N, tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi; lệ phí giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Con nuôi Nguyễn Nguyên Thành N yêu cầu tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi với cha mẹ nuôi là ông Nguyễn Nguyên Tiến D1, bà Trần Thị Phước L. Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu của anh N thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Xét yêu cầu của anh Nguyễn Nguyên Thành N:
Vợ chồng ông Nguyễn Nguyên Tiến D1, bà Trần Thị Phước L là dì dượng của N nên có nhận con nuôi là Trần Thành N, sinh năm 2000, nơi cư trú: khu phố Lộc An, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ - là con đẻ của vợ chồng bà Trần Thị Kim D, sinh năm 1972 và ông Trần Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố Lộc An, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sau đó, Trần Thành N đổi tên thành Nguyễn Nguyên Thành N.
Việc nuôi con nuôi đã được sự đồng ý của bên cho làm con nuôi, bên nhận nuôi con nuôi và con nuôi; đã làm thủ tục hợp pháp tại UBND thị trấn Phước Hải theo đúng quy định của pháp luật tại thời điểm nhận nuôi con nuôi, được thể hiện tại các chứng cứ: Lời khai của người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Sổ đăng ký nuôi con nuôi, Biên bản xác minh của Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ.
Sau khi làm thủ tục nuôi con nuôi, N ở cùng vợ chồng ông D1, bà L, sau đó về nhà cha mẹ đẻ ở từ 3 năm nay. Trong thời gian chung sống, hai bên có thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi đối với con nuôi và con nuôi đối với cha mẹ nuôi, không có mâu thuẫn gì. Trong thời gian làm con nuôi, N không có tài sản riêng, không có công lao đóng góp gì vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi.
Lý do, mục đích của việc yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi là do con nuôi đã thành niên, khoẻ mạnh bình thường và thực tế con nuôi đã ở nhà bố mẹ đẻ sau khi làm con nuôi được khoảng 3 năm nay. Từ thực tế đó mục đích là muốn không có sự ràng buộc về mặt pháp luật đối với con nuôi, hơn nữa được sự đồng ý, tự nguyện chấm dứt nuôi con nuôi của con nuôi, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi.
Từ những nhận định trên, xét thấy, yêu cầu Toà án chấm dứt nuôi con nuôi của anh Nguyễn Nguyên Thành N là có căn cứ, phủ hợp quy định tại khoản 1 Điều 25, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi, Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận.
Ngoài ra, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác nên không xét đến.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ có căn cứ và phù hợp với nhận định của Toà án.
Về lệ phí: Anh Nguyễn Nguyên Thành N phải nộp 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 25, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi, Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của anh Nguyễn Nguyên Thành N:
Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi là ông Nguyễn Nguyên Tiến D1, bà Trần Thị Phước L đối với con nuôi là Nguyễn Nguyên Thành N, sinh năm 2000; địa chỉ: khu phố Hải An, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
2. Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt việc nuôi con nuôi:
- Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi ông Nguyễn Nguyên Tiến D, bà Trần Thị Phước L và con nuôi Nguyễn Nguyên Thành N chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Toà án có hiệu lực.
- Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ Trần Thị Kim D, ông Trần Văn B và con đẻ Nguyễn Nguyên Thành N được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Nguyên Thành N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004747 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định quyết định giải quyết việc dân sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Đất Đỏ; - Chi cục THADS huyện Đất Đỏ; - Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - UBND thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Trần Thị Mỹ Dung |