vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 15/03/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Văn H về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.

Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1971; quê quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh H, chết ngày 01 tháng 01 năm 2001. Hậu quả pháp lý: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "“Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Văn H về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2024/QĐST-VDSLý Nhân, ngày 15 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: “Tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Quốc Huy.

- Thư ký phiên họp: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Bà Đinh Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2024/QĐST-VDS ngày 11 tháng 3 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh H; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1971; nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh H.

+ Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1942; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh H.

+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh H.

+ Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh H.

(Bà Đỗ Thị N, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Th ủy quyền cho anh Nguyễn Văn H tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 21/02/2024)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 06/10/2023 và bản tự khai, người yêu cầu là anh Nguyễn Văn H trình bày:

Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1937 (chết năm 2004) và bà Đỗ Thị N có 04 người con chung, gồm: Chị Nguyễn Thị Ng, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn Th và anh Nguyễn Văn H.

Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1971 sinh sống cùng gia đình tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh H đến năm 1995 thì chị Ng bỏ đi khỏi địa phương đến nay không về, không có tin tức gì của chị Ng, khi bỏ đi chị Ng chưa xây dựng gia đình. Gia đình chị Ng đã nhiều lần đi tìm kiếm qua người thân, đăng tin trên mạng xã hội zalo, facebook … nhưng đều không có tin tức gì về chị Ng. Chị Nguyễn Thị Ng biệt tích khỏi địa phương từ năm 1995 (ngày, tháng cụ thể gia đình anh không xác định được) đến nay đã trên 28 năm mà không có tin tức xác thực về việc chị Ng còn sống hay đã chết, nên anh Nguyễn Văn H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Ng là người đã chết.

Xác minh tại UBND xã Hợp Lý: Chị Nguyễn Thị Ng sinh ra và lớn lên tại xã Hợp Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; chị Ng có dấu hiệu về thần kinh nên không đi học, ở nhà còn có tên gọi khác là Ng (hâm). Đến năm 1995 thì chị Ng bỏ đi khỏi địa phương đến nay chưa quay về, cũng không có tin tức gì của chị Ng. Khi đi chị Ng không khai báo, không làm bất kỳ thủ tục gì ở địa phương, nên địa phương không nắm được địa chỉ mới của chị Ng, không có tin tức và cũng không xác thực được việc chị Ng còn sống hay đã chết.

Ngày 24/10/2023, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với chị Ng theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thông báo tìm kiếm này đã được đăng trên Báo Công Lý trong ba số liên tiếp 89, 90, 91 ra vào các ngày 08, 10, 15/11/2023; đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, Cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh Hà Nam và phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam ba lần trong ba ngày liên tiếp 09, 10, 11/11/2023. Đến nay, đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, nhưng chị Nguyễn Thị Ng vẫn không trở về và không có tin tức gì của chị Ng.

Tại phiên họp:

Anh Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Ng là người đã chết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân có ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu là anh Nguyễn Văn H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân căn cứ Điều 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 40 và các Điều 149, 362, 366, 367, 369, 370, 371, 372, 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị Ng là người đã chết. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, anh Nguyễn Văn H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Văn H có cơ sở xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự, người yêu cầu là anh Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại xã Hợp Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Về nội dung: Xét yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của anh Nguyễn Văn H, Tòa án nhận thấy: Chị Nguyễn Thị Ng sinh năm 1971 sinh ra và lớn lên tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh H đã bỏ nhà đi biệt tích từ năm 1995 và từ đó đến nay không còn liên lạc gì với gia đình. Anh Nguyễn Văn H cùng gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm song không có tin tức gì của chị Ng. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định chị Nguyễn Thị Ng đã biệt tích hơn 05 năm liền, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Ng còn sống. Việc anh Nguyễn Văn H làm đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với chị Nguyễn Thị Ng là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về việc xác định ngày chết của chị Nguyễn Thị Ng: Theo lời khai của đương sự và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, chỉ xác định được năm chị Ng bỏ đi biệt tích là năm 1995, không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng. Như vậy, ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết được xác định là ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn, cụ thể là ngày kết thúc thời hạn 05 năm liền biệt tích (đối với trường hợp điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015). Vì vậy, xác định ngày chết của chị Ngọc là ngày 01 tháng 01 năm 2001.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố chị Nguyễn Thị Ng là đã chết:

Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của chị Nguyễn Thị Ng được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ về tài sản của chị Nguyễn Thị Ng được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của chị Ng được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế.

Về lệ phí: Anh Nguyễn Văn H phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68; Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 149, 362, 366, 367, 369, 370, 371, 372, 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Văn H về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.

Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1971; quê quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh H, chết ngày 01 tháng 01 năm 2001.

Hậu quả pháp lý:

Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của chị Nguyễn Thị Ng được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ về tài sản của chị Nguyễn Thị Ng được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của chị Ng được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Văn H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Được trừ vào tạm ứng lệ phí anh H đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại biên lai số: 0001190 ngày 09 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Bà Đỗ Thị N, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Th được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: “Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành quyết định việc dân sự, người phải thi hành quyết định việc dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ