vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐST-VDS — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự xác định cha cho con của chị Phạm Thị H:

Xác định anh Vương Ngọc T, sinh ngày10/4/1993 là cha của cháu Vương Nhật K, sinh ngày 16/3/2024 (Tên khai sinh dự kiến). Về lệ phí: Chị Phạm Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền lệ phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0004256 ngày…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu xác định cha cho con đối với Phạm Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự xác định cha cho con của chị Phạm Thị H:
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NL
TỈNH TH
Số: 01/2024/QĐST - VDS
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/V Yêu cầu xác định cha cho con
NL, ngày 16 tháng 7 năm 2024

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL, TỈNH TH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lê Xuân Vinh

Thư ký phiên họp: ÔNg Lê Trọng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh TH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL tham gia phiên họp: Ông Vi Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh TH mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 89/2024/TLST-DS ngày 17/6/2024 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”, theo quyết định mở phiên họp số 04/2024/QĐST-VDS ngày 03 tháng 7 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sư: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1992. (Là mẹ của cháu Vương Nhật K, sinh gày 16/3/2024). Nơi cư trú: Thôn MT, xã NS, huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vương Ngọc T, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Tổ Z, khu NS, phường CS, thành phố CP, tỉnh QN. (Có mặt).

- Anh Cao Văn C, sinh năm1991. Nơi cư trú: Thôn MT, xã NS, huyện NL, tỉnh TH. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Trong đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Cao Văn C là vợ chồng có đăng ký kết hôn, do mâu thuẫn vợ chồng, nên từ cuối năm 2021 đến nay, chị và anh C đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Trong thời gian sống ly thân và chờ làm thủ tục ly hôn, chị đã chung sống như vợ chồng với anh Vương Ngọc T, chị và anh T đã có một con chung sinh ngày 16/3/2024 dự kiến đặt tên Vương Nhật K. Tại bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện NL đã xét xử cho chị được ly hôn anh Cao Văn C. Ngày 03/6/2024 Chị và anh Vương Ngọc T đã đăng ký kết hôn theo pháp luật. Sau khi sinh con chị và anh T đã mang con đến Công ty TNHH Di truyền NOVAGEN lấy mẫu xét nghiệm ADN của Vương Ngọc T và Vương Nhật K. Kết quả xét nghiệm ADN cho thấy Vương Ngọc T có quan hệ huyết thống cha – con với Vương Nhật K, độ tin cậy trên 99,999999%. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết xác định anh Vương Ngọc T là cha của cháu Vương Nhật K theo quy định của pháp luật.

Mục đích yêu cầu xác định anh Vương Ngọc T là cha của cháu Vương Nhật K, sinh ngày 16/3/2024 là để đảm bảo quyền lợi của cháu Vương Nhật K được ghi đầy đủ họ tên của bố và mẹ trong giấy khai sinh.

Tại bản tự khai ngày 24/6/2024 và tại phiên họp anh Vương Ngọc T công nhận nội dung chị Phạm Thị H trình bày là đúng thực tế và anh nhất trí với yêu cầu của chị Phạm Thị H, đề nghị Tòa án giải quyết xác định anh là cha của cháu Vương Nhật K, sinh ngày 16/3/2024 theo quy định của pháp luật.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Cao Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh Cao Văn C không trình bày ý kiền của mình đối với yêu cầu của chị Phạm Thị H và cũng không tham gia phiên họp. Theo trình bày của bà Lê Thị H là mẹ đẻ của anh Cao Văn C xác nhận: Anh C là con đẻ của bà và có hộ khẩu ở thôn MT, xã NS, huyện NL. Trước đây anh C và chị H là vợ chồng, nhưng hiện tại vợ chồng đã ly hôn, khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và đi làm ăn ở xa đã trên một năm.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký, Thành phần giải quyết việc dân sự và người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vương Ngọc T tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến khi tiến hành phiên họp, đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Cao Văn C vắng mặt là tự bỏ đi quyền lợi của mình. Đề nghị chủ tọa phiên họp áp dụng: Khoản 10 Điều 29; khoản 1 Điều 35; Điều 366; Điều 369; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88; Điều 90; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị H về việc yêu cầu xác định anh Vương Ngọc T, sinh năm 1993 là Cha của cháu Vương Nhật K, sinh ngày 16/3/2024. Buộc chị Phạm Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện NL nhận định:

[1] Về Thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng của Tòa án: Chị Phạm Thị H yêu cầu Tòa án xác định anh Vương Ngọc T là Cha của cháu Vương Nhật K, Tòa án nhân dân huyện NL thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 10 Điều 29, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 366; Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88; Điều 90 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về yêu cầu giải quyết: Căn cứ lời trình bày của chị Phạm Thị H, anh Vương Ngọc T, lời trình bày của bà Lê Thị H và kết quả xét nghiệm ADN ngày 05/6/2024 của Vương Ngọc T, sinh ngày 10/4/1993 và Vương Nhật K, sinh ngày 16/3/2024 (Tên khai sinh dự kiến) Kết luận: Vương Ngọc T có quan hệ huyết thống cha – con với Vương Nhật K, độ tin cậy trên 99,999999%. Chị Phạm Thị H yêu cầu xác đinh anh Vương Ngọc T là cha của cháu Vương Nhật K là phù hợp với quy định tại Điều 88, Điều 90 và khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tại bản tự khai và tại Phiên họp anh Vương Ngọc T công nhận nội dung chị H trình bày là đúng và đề nghị Tòa án giải quyết xác định anh là cha của cháu Vương Nhật K. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị H về việc yêu cầu xác định anh Vương Ngọc T là cha của Vương Nhật K, sinh ngày 16/3/2024 (Tên khai sinh dự kiến).

[3] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với các tài liệu chứng cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về lệ phí: Chị Phạm Thị H phải chịu lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 10 Điều 29; khoản 1 Điều 35; Điều 366; Điều 369 và Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88; Điều 90; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự xác định cha cho con của chị Phạm Thị H:

Xác định anh Vương Ngọc T, sinh ngày10/4/1993 là cha của cháu Vương Nhật K, sinh ngày 16/3/2024 (Tên khai sinh dự kiến).

Về lệ phí: Chị Phạm Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền lệ phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0004256 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL. Chấp nhận chị H đã nộp đủ lệ phí việc dân sự.

Về quyền kháng cáo:

- Chị Phạm Thị H và anh Vương Ngọc T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Anh Cao Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện NL có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TH có quyền kháng nghị này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ