- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hồ đăng diện-nguyễn thị hồng"
- Tòa quyết gì? Giải quyết vắng mặt anh Hồ Đăng D.
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH QU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2024/QĐST-HNGĐ | B, ngày 23 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH QU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị H Thắm
Đại D Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Quỳnh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Qu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2024/TLST-VHNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2024/QĐST-VDS ngày 13 tháng 5 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Anh Hồ Đăng D, sinh năm 1978; nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Qu. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Qu. Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai của anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H trình bày:
Anh Hồ Đăng D, sinh ngày 12/11/1978 và chị Nguyễn Thị H, sinh 10/8/1978 tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 08/11/1997 tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44. Sau khi đăng ký kết hôn vợ cH anh chị đã tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và làm ăn sinh sống ổn định tại xã Đ từ đó cho đến nay. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, chị Nguyễn Thị H đã đủ tuổi đăng ký kết hôn nhưng anh Hồ Đăng D chưa đủ tuổi kết hôn. Do hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên anh chị tự khai sai năm sinh với cán bộ tư pháp xã để anh Hồ Đăng D từ năm sinh 1978 thành năm 1976 đủ điều kiện đăng ký kết hôn. Khi đăng ký kết hôn vợ cH anh chị chỉ khai thông tin cho cán bộ tư pháp xã chứ không nộp giấy tờ tùy thân gì và cán bộ tư pháp xã cũng không yêu cầu vợ cH xuất trình giấy tờ. Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh chị, cán bộ tư pháp xã đã ghi tên, tuổi, địa chỉ theo lời khai của anh chị. Từ khi kết hôn đến nay vợ cH anh chị chung sống hạnh phúc và sinh được 02 con chung. Tuy nhiên, anh D và chị H nhận thấy việc đăng ký kết hôn năm 1997 của vợ cH là trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến quá trình làm thủ tục giấy tờ pháp lý cho gia đình và các con nên anh D, chị H đề nghị Tòa án huyện B hủy việc đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44, ngày 08/11/1997 do Uỷ ban nhân dân xã Đ cấp và công nhận hôn nhân hợp pháp cho vợ cH kể từ ngày anh Hồ Đăng D đủ tuổi đăng ký kết hôn là 13/11/1997.
Tại Biên bản xác minh ngày 08/5/2024, UBND xã Đ xác nhận: theo Sổ đăng ký kết hôn năm 1997 lưu trữ tại UBND xã Đ, tại số thứ tự 44 ngày 08/11/1976 có đăng ký kết hôn cho anh Hồ Đăng D, sinh năm 1976 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978. Ngoài sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 1997 thì UBND xã Đ không còn lưu trữ hồ sơ, tài liệu gì liên quan đến việc đăng ký kết hôn của anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H. Tại thời điểm năm 1997 anh D và chị H tự kê khai thông tin cá nhân nên việc anh D cố tình khai thông tin năm sinh sai để đủ tuổi đăng ký kết hôn và không nộp kèm theo giấy tờ tùy thân để lưu trữ hồ sơ đăng ký kết hôn. Nay anh D và chị H đề nghị Tòa án hủy đăng ký kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp cho anh chị thì UBND xã Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, UBND xã Đ đã xác nhận anh Hồ Đăng D, sinh ngày 12/11/1978 (số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 17/6/2022) và Hồ Đăng D, sinh năm 1976 trong Sổ đăng ký kết hôn năm số 01/1997 số thứ tự 44 do Uỷ ban nhân dân xã Đ cấp ngày 08/11/1997 là một người.
Tại phiên họp, đại D Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện B thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo yêu cầu của anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 29 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến phiên họp: Thẩm phán, Thư ký đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng giải quyết việc dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trình bày của các đương sự. Đề nghị áp dụng Điều 149, Điều 366, Điều 367, Điều 369, 370, 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã xác định được ngày tháng năm sinh đúng của anh D là ngày 12/11/1978 và chị H là ngày 10/8/1978. Tại thời điểm đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, anh D cố tình kê khai thông tin năm sinh sai để đủ tuổi đăng ký kết hôn. Nhưng trên thực tế theo giấy tờ tuỳ thân, anh D chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, đã vi phạm quy định về độ tuổi đăng ký kết hôn, vì vậy hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44, ngày 11/8/1997 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu đã cấp cho anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H. Công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H từ thời điểm anh Hồ Đăng D đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 13/11/1997. Anh D phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại D Viện kiểm sát nhân dân
huyện B tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu của anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H thì đây là việc dân sự yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn hợp pháp”. Anh D và chị H cư trú tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Qu theo quy định tại Điều 29 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Qu.
Anh Hồ Đăng D đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự mở phiên họp vắng mặt anh Hồ Đăng D.
Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Xác định thời điểm kết hôn trên cơ sở tự nguyện giữa anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H được thể hiện tại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 44 ngày 08/11/1997 của Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp xác định được ngày tháng năm sinh đúng của anh Hồ Đăng D là ngày 12/11/1978, như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn anh D mới 18 tuổi 11 tháng 26 ngày, chị H đã 19 tuổi 2 tháng 28 ngày. Căn cứ Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 anh Hồ Đăng D đã vi phạm quy định về độ tuổi đăng ký kết hôn. Nay anh D và chị H yêu cầu Toà án huỷ kết hôn trái pháp luật là có căn cứ theo quy định tại Điều 5, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nên được chấp nhận.
Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp: Từ khi đăng ký kết hôn đến nay, anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H vẫn đang chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có con chung. Anh D và chị H đều có yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp từ thời điểm anh D đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 13/11/1997. Xét thấy, tại thời điểm ngày 13/11/1997, anh D đã 20 tuổi, chị H đã 20 tuổi. Như vậy, anh D và chị H đã đủ tuổi kết hôn theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Căn cứ khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H từ thời điểm anh Hồ Đăng D đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 13/11/1997.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Hồ Đăng D chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 149, Điều 366, 367, Điều 369, 370, 371 và 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Giải quyết vắng mặt anh Hồ Đăng D.
2. Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44, ngày 08/11/1997 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu đã cấp cho anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H.
3. Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp của anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H:
Chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Đăng D và chị Nguyễn Thị H, công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa anh Hồ Đăng D, sinh ngày 12/11/1978 và chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 10/8/1978 kể từ thời điểm anh Hồ Đăng D đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 13/11/1997.
4. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Hồ Đăng D phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0002603 ngày 23/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Qu.
5. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định giải quyết việc dân sự đối với người có mặt và 10 ngày kể từ ngày nhận được bản sao quyết định hoặc Quyết định được niêm yết theo quy định đối với người vắng mặt. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - - Các đương sự; - - UBND xã Đ; - - VKSND huyện B; - - Chi cục THADS huyện B; - - Lưu HS vụ án. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Thị Lan Phương |