vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐ-TA — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đề nghị của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình theo Công văn số 120/CCTHADS ngày 29/7/2024; miễn cho Vũ trọng T nghĩa vụ nộp vào Ngân sách Nhà nước đối với số tiền còn phải thi hành án là 8.

Người được xét miễn thi hành án không phải nộp lệ phí xét miễn. Quyết định này có thể được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Vũ Trọng T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đề nghị của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình theo Công văn số 120/CCTHADS ngày 29/7/2024; miễn cho Vũ trọng T nghĩa vụ nộp vào Ngân sách Nhà nước đối với số tiền còn phải thi hành án là 8.
  • Căn cứ chính? Điều 4 Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC Hư…; Điều 61 Luật Thi hành án dân sự; Điều 62 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC THỦY
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2024/QĐ-TALạc Thủy, ngày 08 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH MIỄN THI HÀNH ÁN

(Đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước)

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần phiên họp gồm:

Thẩm phán – chủ trì phiên họp: Ông Vũ Hải Dương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên họp: Bà Trần Ngọc Diệp - Kiểm sát viên.

Đại diện Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Bằng – Chấp hành viên - Chi cục trưởng.

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Thắm.

Mở phiên họp ngày 08/8/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy để xét hồ sơ giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản tiền thu nộp ngân sách Nhà nước thụ lý số 01/2024/TLVA ngày 29/7/2024 đối với người phải thi hành án:

Họ và tên: Vũ Trọng T, sinh năm 1972

Hộ khẩu thường trú và cư trú tại: khu A, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình;

Theo đề nghị số 120/CCTHADS ngày 29/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.

NHẬN THẤY:

Theo Bản án hình sự phúc thẩm số 348/1999/HSPT ngày 23/3/1999 của TAND Tối cao, Bản án hình sự sơ thẩm số 95/HSST ngày 30/9/1998 của TAND tỉnh Hòa Bình thì Vũ Trọng T bị xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với mức hình phạt là 5 (năm) năm tù, hình phạt bổ sung là phạt tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước và 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Ngày 08/6/1999, Đội thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy (Nay là Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy) đã ra Quyết định thi hành: tiền án phí 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) và tiền phạt sung công là 20.000.000đ.

Trong quá trình thi hành án, Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy đã xác minh điều kiện thi hành án của Vũ Trọng T nhiều lần. Căn cứ vào biên bản xác minh điều kiện thi hành án ngày 19/7/2024 của Chi cụ thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy cho thấy: Vũ Trọng T sau khi mãn hạn tù trở về địa phương hiện là lao động tự do, thu nhập bấp bệnh, không ổn định. Tài sản là ngôi nhà xây cấp 4 được xây trên đất của bố đẻ. Hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, trong nhà ngoài những vật dụng sinh hoạt tối thiểu không có tài sản gì có giá trị. Tại thời điểm xác minh Vũ Trọng T chưa có điều kiện thi hành án.

Ngày 29/10/2014, Vũ Trọng T đã thi hành án được 500.000đ. Ngày 01/7/2015, Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy ra Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với khoản tiền phạt sung công quỹ còn lại đối với Vũ Trọng T là 19.500.000đ (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng).

Theo đề nghị của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy đã ra Quyết định giảm thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách, cụ thể:

Lần 1, tại Quyết định số 01/2019/QĐ-TA ngày 27/6/2019 Vũ Trọng T được giảm số tiền là 4.875.000đ (Bốn triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Lần 2, tại Quyết định số 01/2022/QĐ-TA ngày 03/8/2022 Vũ Trọng T được giảm số tiền là 3.656.000đ (ba triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Lần 3, tại Quyết định số 01/2023/QĐ-TA ngày 31/8/2023 Vũ Trọng T được giảm số tiền là 2.743.000đ (Hai triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Như vậy số tiền Vũ Trọng T còn phải thi hành là 8.226.000đ (Tám triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Tại Công văn số 120/CCTHADS ngày 29/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét miễn thi hành án số tiền còn lại là 8.226.000đ (Tám triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

XÉT THẤY:

Kể từ ngày ra Quyết định thi hành án đến nay đã 25 năm 2 tháng 1 ngày; Người phải thi hành đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách Nhà nước, đã được giảm nghĩa vụ thi hành án ba lần. Đến nay số tiền còn lại phải thi hành án là 8.226.000đ (Tám triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Mặc dù cơ quan thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy đã đôn đốc nhiều lần nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Vũ Trọng T không có điều kiện để thi hành án.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy đề nghị xét giảm thi hành án dân sự cho Vũ Trọng T.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 61, Điều 62, Điều 63, Điều 64 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Khoản 1 điều 4 Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/9/2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận đề nghị của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình theo Công văn số 120/CCTHADS ngày 29/7/2024; miễn cho Vũ trọng T nghĩa vụ nộp vào Ngân sách Nhà nước đối với số tiền còn phải thi hành án là 8.226.000đ (Tám triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) theo Bản án hình sự phúc thẩm số 348/1999/HSPT ngày 23/3/1999 của TAND Tối cao, Bản án hình sự sơ thẩm số 95/HSST ngày 30/9/1998 của TAND tỉnh Hòa Bình; Số tiền được miễn thi hành án đối với Vũ trọng T là 8.226.000đ (Tám triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

2. Người được xét miễn thi hành án không phải nộp lệ phí xét miễn.

3. Quyết định này có thể được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ