vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Võ Minh T - sinh ngày 05/01/1987.

Hộ khẩu thường trú: ấp Bình N, xã T, huyện G, tỉnh T. Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Võ Minh Thiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Võ Minh T - sinh ngày 05/01/1987.
  • Căn cứ chính? Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2024/QĐ-TAGò Công Tây, ngày 12 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thanh Trinh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc Thúy.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2024/QĐ-TA ngày 04 tháng 01 năm 2024 đối với:

- Họ và tên: Võ Minh T, giới tính: Nam.

- Sinh ngày: 05/01/1987.

- Dân tộc: Kinh.

- Tôn giáo: Không.

- Trình độ văn hoá: 06/12.

- Nguyên quán: huyện G, tỉnh T.

- Hộ khẩu thường trú: ấp Bình N, xã T, huyện G, tỉnh T.

- Chỗ ở hiện nay: ấp Bình N, xã T, huyện G, tỉnh T.

- Nghề nghiệp: Không.

- Tiền án: không.

- Tiền sự: Ngày 21/5/2023, bị công an xã T phạt vi phạm hành chính Quyết định số: 08/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 02/6/2023, cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T đến ngày 03/12/2023 hoàn thành.

- Con ông: Võ Văn T; con bà: Dương Thị M.

(Anh Võ Minh T có mặt).

Có sự tham gia của:

1.Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Văn N. Chức vụ: Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G.

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh T. Chức vụ: Phó trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Ông Nguyễn Văn Quí - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

*Tại phiên họp, bà Nguyễn Thị Thanh T đại diện cơ quan đề nghị trình bày:

Anh Võ Minh T đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 88/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 của Chủ tịch UBND xã T với thời hạn 02 năm từ ngày 04/12/2023 đến ngày 04/12/2025.

Ngày 13/12/2023, anh Võ Minh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị công an xã T phát hiện mời test vào ngày 16/12/2023, kết quả dương tính và lập biên bản vi phạm hành chính xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã Đ, huyện G. Hành vi vi phạm của anh Võ Minh T quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 (Luật số 73/2021/QH14): “Không đăng lý, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện”. Tại bản tường trình, anh Võ Minh T thừa nhận có sử dụng ma túy. Tại Biên bản vi phạm hành chính số: 10/BB-VPHC của công an xã T lập biên bản vi phạm hành chính đối với anh T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 16/12/2023, công an xã T lập giấy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh T. Tại Phiếu kết quả ngày 16/12/2023 của trạm y tế xã kết quả anh Thiện có nghiện ma túy loại Methamphetamine. Ủy ban nhân dân xã T có Quyết định số: 92/QĐ-UBND ngày 16/12/2023 về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh T. Ngày 22/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản vi phạm số 02/BB-VPHC đối với anh T nội dung anh T là đối tượng có Quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú vào ngày 04/12/2023, đến ngày 04/12/2024 anh T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy bị công an xã lập biên bản vi phạm hành chính ngày 16/12/2023 và đưa đi xác định tình trạng nghiện của Trạm y tế xã nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 22/12/2023, Công an xã T có Đề nghị số: 03/ĐN-CAX đề nghị lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Ngày 22/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T có Quyết đinh số: 08/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Ngày 22/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T có Thông báo số: 04/TB - UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Ngày 27/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T có Đề nghị số: 05/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Ngày 28/12/2023, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G có Đề nghị số: 657/ĐN-CNBB đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.

Anh Võ Minh T trình bày: Anh T có sử dụng trái phép chất ma túy, xin cho mức án nhẹ để sớm trở về với gia đình.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung: Xét thấy đủ căn cứ đưa Võ Minh T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo hướng chấp nhận theo đề nghị của Phòng Lao động –Thương binh và Xã hội huyện G, đưa Võ Minh T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 18 tháng đến 24 tháng, theo quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

XÉT THẤY:

Tại phiên họp, anh Võ Minh T có mặt, anh T đã thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy. Qua xem xét Hồ sơ đề nghị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G đối với anh Võ Minh T là có cơ sở vì: Hồ sơ được lập đúng theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Anh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 13/12/2023, trong khi trước đó anh Võ Minh T đã đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 88/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 của Chủ tịch UBND xã T với thời hạn 02 năm từ ngày 04/12/2023 đến ngày 04/12/2025. Ngày 13/12/2023, anh Võ Minh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị công an xã Thành C phát hiện mời test vào ngày 16/12/2023, kết quả dương tính và lập biên bản vi phạm hành chính xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã. Hành vi vi phạm của anh Võ Minh T quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 (Luật số 73/2021/QH14): “Không đăng lý, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện”. Ngày 16/12/2023, công an xã T lập giấy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh T. Tại Phiếu kết quả ngày 16/12/2023 của trạm y tế xã, kết quả anh Thiện có nghiện ma túy loại Methamphetamine. Ủy ban nhân dân xã T có Quyết định số: 92/QĐ-UBND ngày 16/12/2023 về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh T. Ngày 22/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản vi phạm số: 02/BB-VPHC đối với anh T nội dung anh T là đối tượng có Quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú vào ngày 04/12/2023, đến ngày 04/12/2024 anh T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, bị công an xã lập biên bản vi phạm hành chính ngày 16/12/2023 và đưa đi xác định tình trạng nghiện của Trạm y tế xã nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 22/12/2023, Công an xã Thành Công có Đề nghị số: 03/ĐN-CAX đề nghị lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Thiện. Ngày 22/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T có Quyết định số: 08/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Ngày 22/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T có Thông báo số: 04/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Ngày 27/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T có Đề nghị số: 05/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Ngày 28/12/2023, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G có Đề nghị số 657/ĐN-CNBB đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Hiện nay anh Võ Minh T đã trên 18 tuổi có nơi cư trú ổn định. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh T đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm mất an ninh trật tự ở địa phương, hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, nên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Võ Minh T là phù hợp với pháp luật và cũng nhằm giúp cho anh T lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

Xét đề nghị của bà Nguyễn Thị Thanh T, Phó Trưởng Phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh T đề nghị đưa anh Võ Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ, nên Tòa chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân;

- Căn cứ vào Điều 95 và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Võ Minh T - sinh ngày 05/01/1987.

- Hộ khẩu thường trú: ấp Bình N, xã T, huyện G, tỉnh T.

- Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh T.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng (Mười tám tháng), kể từ ngày 22/12/2023.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có mặt tại phiên họp được quyền khiếu nại quyết định này trong hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn kiến nghị của Cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Người khiếu nại phải gửi đơn đến Tòa án đã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại.

Cơ quan đề nghị kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án đã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G phối hợp với Công an huyện G đưa Võ Minh T chấp hành Quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh T.

Cỡ chữ