- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020;
- Căn cứ chính? Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2024/QĐ-TA | Buôn Đôn, ngày 15 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Phi Long
2. Thư ký phiên họp: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Buôn Đôn.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện
Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2024/QĐ-TA, ngày 04 tháng 3 năm 2024 đối với:
Họ và tên: Hà Văn L, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: Thôn 2, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Tày; Tôn
giáo: Không. Con ông Hà Văn K và bà Lục Thị C.
- Tiền án: Ngày 31/3/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh B xử
phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Tiền sự: Ngày 17/02/2023 bị Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk ra quyết
định xử phạt hành chính với số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) về hành vi vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
Với sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Thanh S – Chức vụ: Trưởng Phòng
Lao động thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk tham gia
phiên họp: Bà Vi Thị Hằng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Hà Văn L cư trú tại thôn 2, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk là đối tượng
nghiện ma túy từ năm 2021. Loại ma túy mà Hà Văn L thường xuyên sử dụng là ma túy đá (Amphetamin) và Herorn, mỗi tuần Hà Văn L sử dụng (hút) 01 lần/01 tuần.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện B
ra Quyết định số 03/QĐ-QLNN về việc áp dụng quản lý người cai nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong thời gian đang chấp hành quyết định giáo dục tại địa phương. Hà
Văn L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị cơ quan Công an xã T, huyện B lập biên bản về việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình làm việc Hà Văn L đều khai nhận: Bản thân nghiện ma túy từ
năm 2021 và trong thời gian đang chấp hành quyết định giáo dục tại địa phương Hà Văn L tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy đá (Amphetamin) và Heroin, hình thức sử dụng: Hút.
Ngày 19/02/2024 Công an xã T, huyện B ban hành Công văn số
01/GĐN-CAX về việc đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Hà Văn L.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm ma tuý ngày 19/02/2024 và phiếu trả lời
kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 19/02/2024 của Bệnh viện Đa khoa thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xác định: Hà Văn L dương tính (+) với ma túy có tên MOP (Morphin/Heroin).
Ngày 19/02/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện B ban hành
quyết định số 02/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Hà Văn L.
Tại công văn số 02/ĐN-LĐTBXH ngày 01/3/2024 cũng như tại phiên
họp đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Buôn Đôn đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để đưa đối tượng Hà Văn L vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn phát biểu ý kiến:
Từ khi thụ lý cho đến thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện
đúng quy định tại các Điều 3, 7, 8, 9, 11, 12, 16, 17, 20 của Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân;
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Được thực hiện đúng quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và sự cần thiết, thời gian đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn L với thời gian từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên
cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Phòng lao động, Thương binh và xã hội huyện B và ý kiến của Kiểm sát viên.
XÉT THẤY:
Người bị đề nghị Hà Văn L vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 2
Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án tiến hành phiên họp.
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn L được lập đảm bảo đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 57 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Về thẩm quyền của Tòa án: Phòng Lao động thương binh và Xã hội
huyện B có văn bản số 09/ĐN-LĐTBXH ngày 01/3/2024 về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn L. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.
Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi vi phạm: Hà Văn L là đối
tượng nghiện ma túy từ năm 2021. Quá trình sinh sống tại địa phương, Hà Văn L tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện sự xem thường pháp luật. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá (Amphetamin) và Heroin của Hà Văn L đã vi phạm khoản 3 Điều 3 Luật phòng chống ma túy; vi phạm khoản 1, khoản 16 Điều 2, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Văn L không chỉ ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe của bản thân, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự công cộng, an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn L nhằm giáo dục, giúp đỡ đối tượng sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh thể chất và tinh thần để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Xét đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện B và đại
diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 27, Điều 32 Luật phòng chống ma túy;
- Căn cứ khoản 1, khoản 16 Điều 2, Điều 95, Điều 96; khoản 2 Điều 105;
Điều 107, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
- Căn cứ khoản 56, 57, 58, 59 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020;
- Căn cứ Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân;
- Căn cứ Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP
ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
đối với Hà Văn L, sinh năm 1991. Tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ: Xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (Hai mươi
bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao cho Cơ quan Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt
buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:
- Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định
này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Buôn
Đôn có quyền kiến nghị quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn có quyền kháng nghị quyết
định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến
nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Buôn Đôn; Phòng Lao
động thương binh và xã hội huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk; Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Đắk; - VKSND huyện Buôn Đôn; - Công an huyện Buôn Đôn; - Phòng LĐTB & XH huyện B; - UBND xã T, huyện B; - Người bị đề nghị; - Cơ sở điều trị, cai nghiện MT tỉnh Đắk Lắk; - Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Nguyễn Phi Long |