- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "TRiệu Mùi P - Nguyễn Đức H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Triệu Mùi H (Triệu Mùi P) sinh ngày 30/9/1998.
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2023/QĐST-HNGĐ | TP. Lạng Sơn, ngày 13 tháng 01 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật,
công nhận quan hệ hôn nhân
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hứa Thị Thanh Xuyến.
Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Duy Khánh - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022 về việc Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận quan hệ hôn nhân, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Triệu Mùi H (Triệu Mùi P), sinh ngày 30/9/1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số M, A, thôn B, xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số M, A, thôn B , xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
+ Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn C - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C; vắng mặt;
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản khai chị Triệu Mùi H trình bày: Chị có tên cũ là Triệu Mùi P, sinh ngày 30/9/1998. Năm 2014- 2015, chị và anh Nguyễn Đức H tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Do thời gian đó chị chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn (chưa đủ 18 tuổi) nên chị đã đi làm giấy chứng minh nhân dân ghi ngày sinh là 30/10/1996. Ngày 30/6/2015 chị và anh Nguyễn Đức H đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Vợ chồng chị vẫn chung sống hạnh phúc từ đó đến nay tại thôn B , xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và đã có 01 con chung là cháu Nguyễn Đại P sinh ngày 08/02/2016. Ngày 25/5/2017, chị đổi tên thành Triệu Mùi H. Thực tế chị sinh ngày 30/9/1998. Giấy khai sinh, Sổ học bạ, Giấy chứng nhận tốt nghiệp trung học, căn cước công dân và một số giấy tờ khác đều thể hiện chị sinh ngày 30/9/1998 nhưng giấy đăng ký kết hôn ngày 30/6/2015 thể hiện chị sinh ngày 30/10/1996 là không đúng thực tế. Do các giấy tờ cá nhân của chị không trùng khớp về ngày tháng năm sinh nên chị gặp khó khăn trong cuộc sống về thủ tục hành chính và việc chị đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Đức H ngày 30/6/2015 là vi phạm quy định về điều kiện kết hôn do lúc đó chị chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật. Nay chị yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị với anh Nguyễn Đức H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2015, đăng ký kết hôn ngày 30/6/2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, do vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi; chị yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị với anh Nguyễn Đức H kể từ ngày chị đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức H trình bày: Năm 2014-2015, anh và chị Triệu Mùi P (nay là Triệu Mùi H) tự nguyện tìm hiểu và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Do thời gian đó chị Triệu Mùi P chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật vì thực tế chị Triệu Mùi P sinh ngày 30/9/1998 nên chị Triệu Mùi P đã làm chứng minh nhân dân lấy ngày sinh là 30/10/1996 để đủ tuổi đăng ký kết hôn. Ngày 30/6/2015, anh và chị Triệu Mùi P đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc tại thôn B , xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn từ đó đến nay và đã có 01 con chung là cháu Nguyễn Đại P sinh ngày 08/02/2016. Năm 2017, chị Triệu Mùi P thay đổi tên thành Triệu Mùi H. Do các giấy tờ cá nhân của chị Triệu Mùi H không trùng khớp về ngày tháng năm sinh nên gặp khó khăn trong thủ tục hành chính và vì tại thời điểm kết hôn với anh, chị Triệu Mùi H chưa đủ tuổi kết hôn là vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn nên anh nhất trí với yêu cầu của chị Triệu Mùi H. Anh đề nghị Tòa án tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh với chị Triệu Mùi H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2015, đăng ký kết hôn ngày 30/6/2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh và chị Triệu Mùi H kể từ ngày chị Triệu Mùi H đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật.
- Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn do ông Hoàng Văn C - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người đại diện theo pháp luật trình bày: Ngày 30/6/2015, Ủy ban nhân dân xã C làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh Nguyễn Đức H và chị Triệu Mùi P (nay là Triệu Mùi H), Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2015, ngày 30/6/2015. Qua kiểm tra sổ sách, tài liệu đăng ký kết hôn thể hiện hiện anh Nguyễn Đức H sinh năm 1993, chị Triệu Mùi P sinh ngày 30/10/1996. Xét anh Nguyễn Đức H và chị Triệu Mùi P tự nguyện đăng ký kết hôn và đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật nên Ủy ban nhân dân xã C đã làm thủ tục đăng ký kết hôn và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho anh Nguyễn Đức H, chị Triệu Mùi P. Nay được biết, thực tế chị Triệu Mùi P (Triệu Mùi H) sinh ngày 30/9/1998 và tại thời điểm đăng ký kết hôn vơi anh Nguyễn Đức H, chị Triệu Mùi H chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật nên chị Triệu Mùi H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp giữa chị Triệu Mùi H với anh Nguyễn Đức H theo quy định pháp luật. Ủy ban nhân dân xã C đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên họp, phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra tại phiên họp, xét thấy đủ căn cứ xác định chị Triệu Mùi H (Triệu Mùi P) sinh ngày 30/9/1998. Tại thời điểm kết hôn ngày 30/6/2015 chị Triệu Mùi H chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật nên việc chị Triêu Mùi Hoa và anh Nguyễn Đức H đăng ký kết hôn ngày 30/6/2015 là trái pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Triệu Mùi H, hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Triệu Mùi H và anh Nguyễn Đức H theo giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/6/2015 của Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Triệu Mùi H và anh Nguyễn Đức H kể từ ngày chị Triệu Mùi H đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật. Chị Triệu Mùi H phải chị lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn nhận định:
Tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và đều đã có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 238, 361; 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu thấy: Chị Triệu Mùi H (Triệu Mùi P) sinh ngày 30/9/1998 và anh Nguyễn Đức H sinh năm 1993 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 30/6/2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, anh Nguyễn Đức H đã trên 20 tuổi, chị Triệu Mùi H mới được 16 tuổi 09 tháng 01 ngày, nên chị Triệu Mùi H chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (quy định tuổi kết hôn là nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên). Vì vậy, việc chị Triệu Mùi H yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị và anh Nguyễn Đức H theo giấy chứng nhận kết hôn số 48/2015, ngày 30/6/2015 của Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, cần chấp nhận.
Tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận quan hệ hôn nhân thì chị Triệu Mùi H đã đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn. Chị Triệu Mùi H và anh Nguyễn Đức H đang chung sống hạnh phúc và đã có 01 con chung là cháu Nguyễn Đại P sinh ngày 08/02/2016. Chị Triệu Mùi Hòa và anh Nguyễn Đức H đều có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với nhau xây dựng gia đình hạnh phúc và đều yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của anh chị kể từ thời điểm chị Triệu Mùi H đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 8, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia
đình
năm
2014;
Thông
tư
liên
tịch
số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thấy, yêu cầu của chị Triệu Mùi H và anh Nguyễn Đức H là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Triệu Mùi H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBNTVH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 8; các Điều 10, 11, 12 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, các Điều 149, 238, 361, 367, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Triệu Mùi H (Triệu Mùi P) sinh ngày 30/9/1998.
1.1. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Nguyễn Đức H và chị Triệu Mùi H (Triệu Mùi P) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2015, ngày 30/6/2015 của Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
1.2. Công nhận quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Đức H và chị Triệu Mùi H (Triệu Mùi P) kể từ thời điểm chị Triệu Mùi H (Triệu Mùi P) đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật là ngày 30/9/2016.
3. Về lệ phí Tòa án: Chị Triệu Mùi H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị Triệu Mùi H đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng lệ phí Tòa án số AA/2021/0001152 ngày 22 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
4. Chị Triệu Mùi H, anh Nguyễn Đức H, Ủy ban nhân dân xã C có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Lạng Sơn; - UBND xã C, TP. Lạng Sơn; - Chi cục THADS TP. Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hứa Thị Thanh Xuyến |