vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Vì Thị D. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T theo giấy chứng nhận kết hôn số 60/2011, quyển số 01/2010 ngày 07/9/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu.

Về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Anh Đèo Văn T và chị Hoàng Thị H phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng kể từ khi quyết định này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "D-H-T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Vì Thị D. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T theo giấy chứng nhận kết hôn số 60/2011, quyển số 01/2010 ngày 07/9/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST - HNGĐT2, ngày 11 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Bà Hồ Thị Tuyết

Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Thủy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu tham gia phiên họp: Bà Tô Đỗ Yến Ly - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2023/TLST - HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023. Về việc "Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2023/QĐST- HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Vì Thị D, sinh năm 1958. Địa chỉ: Bản M, xã K, huyện U, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt có lý do)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Hoàng Thị H, sinh ngày 02/10/1990. Địa chỉ: Bản B, thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt có lý do)

2. Anh Đèo Văn T, sinh ngày 08/11/1992. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản B, thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt có lý do)

3. Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2 tỉnh Lai Châu. Đại diện theo pháp luật: Ông Phong Văn Y – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2 tỉnh Lai Châu. Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đình H1– Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu. Theo văn bản ủy quyền số 468 ngày 31/5/2023. (Vắng mặt có lý do)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Vì Thị D trình bày:

Bà Vì Thị D có con gái là Hoàng Thị H, sinh năm 1990 và con rể là Đèo Văn T sinh ngày 08/11/1992. Ngày 07/9/2011 chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T, hiện đang cư trú tại bản Bản B, thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu. Thời điểm đăng ký kết hôn, anh Đèo Văn T chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định nên tự khai là Đèo Văn T sinh ngày 08/11/1991 để đủ tuổi làm thủ tục đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn của chị H và anh T là vi phạm quy định nên bà Vì Thị D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tam Đường hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T đều trình bày: Chị H và anh T đăng ký kết hôn vào ngày 07/9/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu trên cơ sơ tự nguyện. Tại thời điểm làm thủ tục đăng ký kết hôn, Đèo Văn T chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định nên tự khai là Đèo Văn T sinh ngày 08/11/1991 để đủ tuổi làm thủ tục đăng ký kết hôn nên Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đường đã cấp giấy chứng nhận kết hôn cho anh, chị ghi là Hoàng Thị H, sinh ngày 02/10/1990 và Đèo Văn T, sinh ngày 08/11/1991. Trước đây trong bản sao giấy khai sinh anh Đèo Văn T có tên là Lèo Văn Th sinh ngày 18/11/1992 và trong các giấy tờ Giấy chứng nhận trúng tuyển vào lớp 1 tiểu học , giấy xác nhận hoàn thành chương trình bậc tiểu học và học bạ trung học cơ sở Đèo Văn T tên là Lèo Văn Th sinh ngày 18/11/1992. Sau đó anh T đi đăng ký khai sinh lại và có tên là Đèo Văn T, sinh ngày 08/11/1992. Và thực tế hiện tại là Đèo Văn T, sinh ngày 08/11/1992. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H và anh T chung sống với nhau H phúc nhưng đến tháng 3 năm 2022 bắt đầu mâu thuẫn và sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị H và anh T đồng ý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của bà Vì Thị D.

Về nuôi con: Chị H, anh T có 02 con chung là cháu Đèo Văn A, sinh ngày 09/02/2010 và cháu Đèo Thị B, sinh ngày 02/6/2012. Anh T và chị H tự nguyện thỏa thuận chị Hoàng Thị H được quyền trực triếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi, có khả năng lao động. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Anh T, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá tình giải quyết việc dân sự đại diện Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đường trình bày: Anh Đèo Văn T và chị Hoàng Thị H đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 9 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện. Tại thời điểm kết hôn Đèo Văn T có làm bản tự khai đăng ký kết hôn khai Đèo Văn T sinh ngày 08/11/1991 để làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh T và chị H. Nên UBND thị trấn T1 đã làm thủ tục đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho chị Hoàng Thị H, sinh ngày 02/10/1990, và Đèo Văn T, sinh ngày 08/11/1991, vào sổ số 60/2011, quyển số 01, ngày 07 tháng 9 năm 2011. Theo tài liệu bà D gửi cho Tòa án trong giấy khai sinh năm 1999 anh T đăng ký khai sinh tên là Lèo Văn Thịn, sinh ngày 18/11/1992 nay giấy đăng ký khai sinh trên không hợp lệ, vì qua kiểm tra sổ sách lưu tại Ủy ban nhân dân thị trấn và qua xác minh với Ủy ban nhân dân xã L không thể hiện việc anh Đèo Văn T đăng ký khai sinh như trên. Đối với Giấy chứng nhận trúng tuyển vào lớp 1 tiểu học, giấy xác nhận hoàn thành chương trình bậc tiểu học và học bạ trung học cơ sở ghi Lèo Văn Thịn sinh ngày 18/11/1992 và anh Đèo Văn T, sinh ngày 08/11/1992 là một người. Anh Đèo Văn T đã khai sinh vào năm 2021 là Đèo Văn T, sinh ngày 08/11/1992. Do vậy việc đăng ký kết hôn của anh Đèo Văn T và chị Hoàng Thị H trước kia không đúng theo quy định nên UBND thị trấn Tam Đường nhất trí với đề nghị hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T

Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đường, xác định: Anh Đèo Văn T có tên trong Giấy chứng nhận trúng tuyển vào lớp 1 tiểu học, giấy xác nhận hoàn thành chương trình bậc tiểu học và học bạ trung học cơ sở là Lèo Văn Thịn sinh ngày 18/11/1992 và anh Đèo Văn T, sinh ngày 08/11/1992 là một người. Anh Đèo Văn T đã khai sinh vào năm 2021 là Đèo Văn T, sinh ngày 08/11/1992.

Tại biên bản lấy lời khai của cháu Đèo Văn Hiếu, Đèo Thị Thảo thể hiện: Cháu Hiếu, cháu Thảo là con chung của anh Đèo Văn T và chị Hoàng Thị H, các cháu không có tài sản riêng. Các cháu có nguyện vọng được ở với chị H.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 1 Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Đề nghị chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của bà Vì Thị D. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T theo giấy chứng nhận kết hôn số 60/2011, quyển số 01/2010 ngày 07/9/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu và ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa anh Đèo Văn T và chị Hoàng Thị H về nuôi con chung. Đề nghị áp dụng Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 11, Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bà Vì Thị D không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tại phiên họp, Tòa án nhân huyện Tam Đường nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Đây là yêu cầu về hủy kết hôn trái pháp luật do việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trước khi mở phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Vì Thị D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị H, anh Đèo Văn T, Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đường có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Do đó, căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật: Chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T đăng ký kết hôn ngày 07/9/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện. Tuy nhiên tại thời điểm đăng ký kết hôn, anh Đèo Văn T, sinh ngày 18/11/1992 chưa đủ độ tuổi kết hôn theo quy định (anh Đèo Văn T mới được 18 tuổi 09 tháng 20 ngày). Như vậy việc đăng ký kết hôn của chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Đến thời điểm hiện tại, anh T, chị H đã đủ tuổi kết hôn, quá trình chung sống anh T, chị H có nhiều mâu thuẫn và hiện đang sống ly thân với nhau, đồng thời anh T, chị H đều thống nhất yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của bà Vì Thị D về việc yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T theo giấy chứng nhận kết hôn số 60/2011, quyển số 01/2010 ngày 07/9/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu.

Về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.

Do việc kết hôn giữa anh Đèo Văn T và chị Hoàng Thị H vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 và là kết hôn trái pháp luật nên kể từ khi quyết định này có hiệu lực pháp luật, anh Đèo Văn T và chị Hoàng Thị H phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh T, chị H có 02 con chung là cháu Đèo Văn Hiếu, sinh ngày 09/02/2010 và cháu Đèo Thị Thảo, sinh ngày 02/6/2012. Quá trình giải quyết việc dân sự, các cháu Đèo Văn Hiếu, Đèo Thị Thảo đều có nguyện vọng muốn được ở với chị Hoàng Thị H. Anh T và chị H thỏa thuận chị Hoàng Thị H được quyền trực triếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi, có khả năng lao động. Anh Đèo Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy thỏa thuận giữa anh T chị H về nuôi con chung là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không bị pháp luật cấm, do vậy cần chấp nhận sự thỏa thuận giữa anh T chị H về nuôi con chung.

Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Anh T, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về kiến nghị: Kiến nghị UBND thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 11, Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bà Vì Thị D không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; Điều 149; khoản 2, khoản 3 Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 1 Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm d khoản 2 Điều 11, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Vì Thị D. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T theo giấy chứng nhận kết hôn số 60/2011, quyển số 01/2010 ngày 07/9/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu.

2. Về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật:

- Anh Đèo Văn T và chị Hoàng Thị H phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng kể từ khi quyết định này có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Chị Hoàng Thị H được quyền trực triếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Đèo Văn Hiếu, sinh ngày 09/02/2010 và cháu Đèo Thị Thảo, sinh ngày 02/6/2012 đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi, có khả năng lao động. Anh Đèo Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đèo Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

3. Kiến nghị UBND thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Lai Châu thực hiện ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy kết hôn trái pháp luật của chị Hoàng Thị H và anh Đèo Văn T theo quy định của pháp luật.

4. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Vì Thị D không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo hoặc niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ