- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hủy kết hôn trái pháp luật"
- Tòa quyết gì? Quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trương Thị Thùy Tr.
- Căn cứ chính? Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01 /2023/QĐST-HNGĐ | Ninh Sơn, ngày 22 tháng 02 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Trần Anh Khoa.
Thư ký phiên họp: Ông Võ Minh Trường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận
tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Mai Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số 192/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 về việc: Yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Trương Thị Thùy Tr, sinh năm 1991 (Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn TN, xã M, huyện S, tỉnh T.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận
Người Đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Văn V - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
Người Đại diện theo ủy quyền: Ông Kiều Thành D – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
Theo Giấy ủy quyền số 01/GUQ-UBND ngày 21/02/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ trụ sở: Xã M, huyện S, tỉnh T.
Có mặt tại phiên họp.
2. Ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1993 (Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã N, huyện H, tỉnh T.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Bà Trương Thị Thùy Tr, sinh ngày 20/10/1991 và ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/7/1993 sau một thời gian quen biết, tìm hiểu thì quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2011. Do tại thời điểm năm 2011, ông Nguyễn Văn D chưa đủ 20 tuổi nên gia đình chỉ tổ chức lễ ăn hỏi, lễ cưới theo phong tục cổ truyền mà chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, gia đình bà Tr theo đạo Công giáo và do không có giấy đăng ký kết hôn nên bà Tr và ông D không được tổ chức lễ cưới tại nhà thờ. Do đó, vào tháng 10/2011 gia đình bà Tr đã nhờ cán bộ tư pháp xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận làm giấy đăng ký kết hôn. Tại thời điểm này, do ông D vẫn chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên gia đình bà Tr đã đề nghị cán bộ tư pháp xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn ghi sai họ tên và ngày, tháng, năm sinh của ông D từ “Nguyễn Văn D, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1993” tháng “Nguyễn Hoàng HD, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1991”.
Ngày 11/11/2011, Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đã tiến hành đăng ký kết hôn cho bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D và cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2011. Tại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn này thể hiện các thông tin như sau:
- Họ và tên chồng: Nguyễn Hoàng HD, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1991.
- Họ và tên vợ: Trương Thị Thùy Tr, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1991.
Sau khi kết hôn, bà Tr và ông D sống với nhau một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, từ năm 2019 đến nay bà Tr và ông D không còn sống chung với nhau nữa.
Tại Đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật ngày 09/12/2022 và quá trình giải quyết việc Hôn nhân và gia đình, bà Trương Thị Thùy Tr yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2011Ngày 11/11/2011 lập tại Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
- Về con chung: Bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí giải quyết việc Hôn nhân và gia đình: Bà Trương Thị Thùy Tr đồng ý chịu toàn bộ lệ phí hôn nhân và gia đình.
Bà Trương Thị Thùy Tr yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân và gia đình.
Người liên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/02/2023, ông Nguyễn Văn D trình bày:
Khoảng năm 2011, ông Nguyễn Văn D và bà Trương Thị Thùy Tr kết hôn và làm lễ ăn hỏi, lễ cưới theo phong tục địa phương nhưng chưa đăng ký kết vì ông D chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Do gia đình chị Tr theo đạo Công giáo nên để được làm lễ cưới tại nhà thờ La Vang, gia đình bà Tr đã nhờ cán bộ tư pháp xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn làm giúp giấy chứng nhận kết hôn. Do ông D chưa đủ điều kiện đăng ký kết hôn nên cán bộ tư pháp đã ghi sai họ tên và ngày tháng năm sinh của ông D, cụ thể là “Nguyễn Hoàng HD, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1991”. Ông D cũng không ký tên vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn này.
Sau khi chung sống với nhau một thời gian thì giữa ông D và bà Tr phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến năm 2019 thì ông D và bà Tr đã không còn chung sống với nhau nữa.
Ông D xác định việc đăng ký kết hôn với bà Tr là trái pháp luật và đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn này.
Ông D và bà Tr không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung.
Ông D đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc.
Tại Văn bản số 309/UBND-TP ngày 26/12/2022 và tại phiên họp, Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận có ý kiến như sau:
Bà Trương Thị Thùy Tr, sinh năm 1991, hộ khẩu thường trú tại thôn Tà Nôi, xã Ma Nới và ông Nguyễn Hoàng HD, sinh năm 1991 (tên gọi khác: Nguyễn Văn D, sinh năm 1993), hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã N, huyện H, tỉnh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ma Nới vào ngày 05/11/2011 (số Giấy chứng nhận kết hôn 23, quyển số 01/2011 ngày 05/11/2011).
Hiện nay toàn bộ hồ sơ, thủ tục đăng ký kết hôn ngày 05/11/2011 của bà Trương Thị Thùy Tr không còn được lưu trữ tại xã mà chỉ được thể hiện trong Sổ Hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã Ma Nới (Quyển số 01/2011).
Tuy nhiên qua kiểm tra, xác minh thì Ủy ban nhân dân xã Ma Nới xác định: Bà Trương Thị Thùy Tr đã khai tên, tuổi khác cho ông Nguyễn Văn D cụ thể: Nguyễn Văn D khai thành Nguyễn Hoàng HD; Sinh ngày 21/7/1993 khai thành sinh ngày 21/7/1991 để được cấp giấy đăng ký kết hôn. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, ông Nguyễn Văn D chưa đủ 20 tuổi và thông tin nhân thân của ông D cũng bị sai lệch, vi phạm các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về điều kiện đăng ký kết hôn. Như vậy, trường hợp đăng ký kết hôn giữa bà Trường Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D tại Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận cấp là trái với quy định pháp luật.
Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ việc:
- Về thủ tục tố tụng:
Đây là việc Hôn nhân và gia đình về việc yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận do đó Toà án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên họp Người yêu cầu là bà Trương Thị Thùy Tr và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn D có yêu cầu giải quyết vắng mặt, đề nghị Tòa án căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên họp vắng mặt bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyên Văn D.
- Về nội dung:
Đề nghị Toà án nhân dân Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D tại Giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận cấp.
Về con chung: Bà Tr và ông D không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tr và ông D không yêu cầu nên đề nghị Tòa án không xem xét.
Về lệ phí: Bà Trương Thị Thùy Tr phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận nhận định:
[1.] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Xác định yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình là “Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật”, được quy định tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Trương Thị Thùy Tr yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật với ông Nguyễn Hoàng HD theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận cấp. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận có thẩm quyền giải quyết.
[1.3]. Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên họp:
Người yêu cầu là bà Trương Thị Thùy Tr và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn D có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên họp vắng mặt bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyên Văn D.
[2]. Xét yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của bà Trương Thị Thùy Tr:
[2.1]. Về tính hợp pháp của việc đăng ký kết hôn giữa bà Trương Thị Thùy Tr, sinh ngày 20/10/1991 và ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/7/1993:
Tại Giấy chứng nhận kết hôn 23, quyển số 01/2011 ngày 11/11/2011 do Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận cấp (BL 03) thể hiện: Bà Trương Thị Thùy Tr, sinh ngày 20/10/1991 đăng ký kết hôn với ông Nguyễn Hoàng HD, sinh ngày 21/7/1991.
Tại Sổ hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận (BL11 – 12) thể hiện: Ngày 05/11/2011, bà Trương Thị Thùy Tr, sinh ngày 20/10/1991 đăng ký kết hôn với ông Nguyễn Hoàng HD, sinh ngày 21/7/1991.
Tại văn bản số 70/CAX ngày 14/02/2022 của Công an xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận thể hiện (BL 21): Bà Trương Thị Thùy Tr sinh ngày 20/10/1991, có chồng là Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/7/1993, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã N, huyện H, tỉnh T.
Tại Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân sự do Công an xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận thể hiện (BL 23): Ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/7/1993 có số định danh cá nhân: 058093002407.
Tại Biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/7/1993, số định danh cá nhân xxxxxxxxxxxx do Tòa án lập ngày 13/02/2023 thể hiện (BL 17): Ông Nguyễn Văn D thừa nhận do chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, nên ông D và bà Tr đã ghi sai thông tin về “Họ và tên” và “Ngày tháng năm sinh” của ông D, cụ thể: “Nguyễn Văn D” ghi thành “Nguyễn Hoàng HD” và “Sinh ngày 21/7/1993” ghi thành “Sinh ngày 21/7/1991”.
Quá trình giải quyết vụ việc, bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D đều không yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân.
Từ những tài liệu trên, đủ cơ sở xác định:
Người đăng ký kết hôn với bà Trương Thị Thùy Tr là ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1993, không phải là “Nguyễn Hoàng HD, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1991”.
Tại thời điểm đăng ký kết hôn với bà Trương Thị Thùy Tr theo Sổ hộ tịch, ngày 05/11/2011, ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/7/1993 chỉ mới 18 tuổi 03 tháng 04 ngày.
Tại thời điểm đăng ký kết hôn với bà Trương Thị Thùy Tr theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, ngày 11/11/2011, ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/7/1993 chỉ mới 18 tuổi 03 tháng 09 ngày.
Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định điều kiện kết hôn, cụ thể như sau:
“Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
1. Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên”.
Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nói trên, đủ cơ sở kết luận:
Tại điểm đăng ký kết hôn với bà Trương Thị Thùy Tr, ông Nguyễn Văn D chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, nhưng vì muốn được đăng ký kết hôn nên bà Tr và ông D đã cung cấp sai thông tin về họ tên, ngày tháng năm sinh của ông D cho Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Do đó, việc Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đăng ký kết hôn cho bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D khi ông D chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn là trái quy định pháp luật. Do đó Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Thùy Tr về việc hủy kết hôn trái pháp luật với ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/7/1993.
[3]. Về hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Căn cứ Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
[3.2]. Về con chung: Bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D không có con chung, không yêu cầu giải quyết về con chung nên Tòa án không xem xét.
[3.2]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét trong vụ việc này.
[4]. Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nói trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tại phiên họp; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trương Thị Thùy Tr.
[5]. Về lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Bà Trương Thị Thùy Tr phải chịu 300.000 đồng lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 29, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 và khoản 3 Điều 367, các Điều 369, 370, 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Các Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Khoản 1 Điều 2 và điểm b khoản 2 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016.
- Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trương Thị Thùy Tr.
2.1. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa bà Trương Thị Thùy Tr, sinh ngày 20/10/1991 và ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/7/1993.
Bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
2.2. Hủy Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2011 ngày 11/11/2011 của Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
2.3. Về con chung: Bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D không có con chung, không yêu cầu giải quyết về con chung nên Tòa án không xem xét.
2.4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét trong vụ việc này.
2.5. Về lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Bà Trương Thị Thùy Tr phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc Hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006049 ngày 09/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
2.6. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Bà Trương Thị Thùy Tr và ông Nguyễn Văn D vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Sơn; - Chi cục THADS huyện Ninh Sơn; - UBND xã Ma Nới; - Các đương sự; - Lưu HS, AV | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Trần Anh Khoa |