vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 19/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Vũ Quốc H1.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Vũ Quốc H1.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST- DS.Phủ Lý, ngày 19 tháng 5 năm 2023.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2022/TLST - DS ngày 19 tháng 12 năm 2022, về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”. Theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-VDS ngày 09 tháng 5 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Vũ Quốc H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: tổ 6, phường QT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1960. Địa chỉ: thôn 5, xã PV, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

- Ông Vũ Đức H3, sinh năm 1966.

- Bà Vũ Thị H4, sinh năm 1969. Cùng địa chỉ: tổ 6, phường QT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

(Phiên họp có mặt ông H1, bà H2, ông H3, bà H4.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai tại Tòa án của người yêu cầu, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ việc dân sự thì nội dung việc dân sự như sau:

Cụ Vũ Duy C, sinh năm 1925 đã chết năm 2018 và cụ Phạm Thị H, sinh năm 1927 đã chết năm 1980. Khi còn sống vợ chồng hai cụ sinh được 05 người con gồm: bà Vũ Thị H5, sinh năm 1952; bà Vũ Thị H2, sinh năm 1960; ông Vũ Quốc H1, sinh năm 1963; ông Vũ Đức H3, sinh năm 1966; bà Vũ Thị H4, sinh năm 1969.

Đối với bà Vũ Thị H5: Từ khi sinh ra đến khi lớn lên thì bà H5 sống cùng với bố mẹ là cụ C, cụ H đến khi cụ H chết thì bà H5 sống với bố là cụ Cương tại tổ 6, phường QT, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đến năm 2000 thì bà H5 (chưa có chồng con) đã bỏ nhà đi khỏi địa phương mà không nói lý do gì cho gia đình biết, gia đình đã đi tìm nhiều lần, nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà H5 và bà H5 cũng không liên lạc gì với gia đình. Từ khi bà H5 bỏ nhà đi đến nay đã 23 năm liền mà gia đình không có tin tức xác thực về bà H5 là còn sống. Ông Vũ Quốc H1 là người yêu cầu đã làm thủ tục tìm kiếm thông tin của bà H5 trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 04 tháng. Đến nay đã hết thời hạn đăng tin nhưng gia đình vẫn không có tin tức gì của bà H5 là còn sống và bà H5 cũng không liên lạc gì với các anh chị em trong gia đình.

Nay ông Vũ Quốc H1 yêu cầu Toà án tuyên bố một người là đã chết đối với chị gái ông là bà Vũ Thị H5, sinh năm 1952, đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, phường QT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam kể từ năm 2000 đến nay không có tin tức gì.

* Tại phiên họp:

- Ông Vũ Quốc H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị H5 là đã chết. Bà Vũ Thị H2, ông Vũ Đức H3, bà Vũ Thị H4 nhất trí việc ông Vũ Quốc H1 yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị H5 là đã chết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý phát biểu quan điểm: Thẩm phán đã thụ lý việc dân sự đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 27, 35, 39, 68, 144, 149, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68, 71, 72 Bộ luật dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Quốc H1.

+ Tuyên bố bà Vũ Thị H5, sinh năm 1952; nơi cư trú cuối cùng tại tổ 6, phường QT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam chết ngày 01/01/2006. Quan hệ nhân thân và tài sản liên quan đến bà H5 được giải quyết như đối với người đã chết.

+ Về lệ phí sơ thẩm: Ông H1 phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000đ, được đối trừ với số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp. Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam nhận định:

Về thẩm quyền: Bà Vũ Thị H5 có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại tổ 6, phường QT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc ông Vũ Quốc H1 yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Vũ Thị H5 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam theo trình tự sơ thẩm.

Về nội dung: Bà Vũ Thị H5 đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, phường QT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam từ năm 2000 đến nay đã 23 năm liền mà không có tin tức xác thực là còn sống. Ông Vũ Quốc H1, bà Vũ Thị H2, ông Vũ Đức H3, bà Vũ Thị H4 là các em ruột đều còn sống của bà Vũ Thị H5 và chính quyền phường QT là nơi cư trú cuối cùng của bà Vũ Thị H5 cũng xác nhận bà H5 bỏ đi biệt tích đến nay 23 năm liền mà không có tin tức xác thực bà H5 còn sống.

Sau khi nhận được đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết ngày 30/12/2022 của ông Vũ Quốc H1 đề nghị Toà án thông báo tìm kiếm thông tin bà Vũ Thị H5 trên các phương tiện thông tin đại chúng. Toà án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 05/2022/QĐ-TA ngày 30/12/2022. Ông Vũ Quốc H1 cũng đã tiến hành thủ tục thông báo tìm kiếm bà Vũ Thị H5 trên báo Lao động trong ba kỳ liên tiếp vào các ngày 09,10,11/01/2023 và đăng tin tìm kiếm bà Vũ Thị H5 trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần vào các ngày 09,10,11/01/2023. Tòa án đã tiến hành đăng tin tìm kiếm bà Vũ Thị H5 trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án từ ngày 11/01/2023. Việc đăng tin thực hiện đúng theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đến nay đã hết thời hạn công bố thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (bốn tháng) vẫn không có tin tức xác thực là bà Vũ Thị H5 còn sống. Do đó căn cứ vào điểm d khoản 1 điều 71 Bộ luật Dân sự. Toà chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Quốc H1 về việc tuyên bố bà Vũ Thị H5 đã chết là đúng pháp luật.

Về ngày chết của bà Vũ Thị H5: Theo lời khai trình bày của ông Vũ Quốc H1, bà Vũ Thị H2, ông Vũ Đức H3, bà Vũ Thị H4 là các em ruột còn sống của bà Vũ Thị H5 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ việc dân sự thì chỉ xác định được thời gian bà H5 bỏ đi khỏi địa phương là từ năm 2000 mà không xác định được ngày, tháng cụ thể. Do đó, thời hạn 05 năm liền biệt tích của bà H5 được xác định từ ngày 01/01/2001 và ngày chết của bà H5 được xác định vào ngày 01/01/2006 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Căn cứ Điều 72 Bộ luật Dân sự thì:

- Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Vũ Quốc H1 phải nộp 300.000đ.

Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định này theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 68, 71, 72 Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 143; Điều 144; khoản 2 Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 391; Điều 392; Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Vũ Quốc H1. Tuyên bố bà Vũ Thị H5, sinh năm 1952; nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, phường QT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam đã chết ngày 01/01/2006.

2. Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết:

- Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Vũ Quốc H1 phải nộp 300.000đ. Ông H1 được đối trừ với 300.000đ mà ông đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai số AA/2021/0001587 ngày 19/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý. Ông Vũ Quốc H1 đã nộp đủ lệ phí.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ