- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Nh tuyên bố chị H1 đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Nh, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2023/QĐST-DS | Quỳnh Phụ, ngày 10 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Phượng
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đăng Hạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc tuyên bố một người đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Đỗ Thị Nh, sinh ngày 20/7/ 1963
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Bà Đỗ Thị Nh có mặt tại phiên họp).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và lời trình bày tại phiên họp, người yêu cầu là bà Đỗ Thị Nh trình bày như sau:
Bà Đỗ Thị Nh và ông Bùi Văn H, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình là vợ chồng, kết hôn năm 1990 (có đăng ký kết hôn nhưng do nhà cháy nên đã mất giấy đăng ký kết hôn). Quá trình chung sống, bà và ông H sinh được 02 người con chung là chị Bùi Thị Nh1, sinh ngày 20/02/1991 hiện đã xây dựng gia đình và sinh sống ở Thái Nguyên và chị Bùi Thị H1, sinh ngày 19/10/1992 (chưa có chồng con). Ngoài ra không còn người con nào khác.
Chị Bùi Thị H1 bỏ nhà đi từ ngày 02/6/2011 (âm lịch), trước khi đi có viết giấy để lại với nội dung “bố mẹ đừng tìm con nữa” rồi âm thầm mang toàn bộ quần áo, chứng minh nhân dân đi khỏi nhà. Đến nay đã hơn 11 năm nhưng chị H1 không liên lạc về gia đình, không biết đi đâu làm gì. Năm 2020 ông H ốm chết, chị H1 cũng không trở về. Gia đình đã đi tìm kiếm, hỏi han nhiều nơi nhưng không thấy, không có tin tức xác thực là chị H1 còn sống hay đã chết.
Nay để ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi của người thân, bà Đỗ Thị Nh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình tuyên bố chị Bùi Thị H1 đã chết.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc yêu cầu, Thẩm phán và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Đỗ Thị Nh, bà Nh
phải chịu chi phí đăng tin tìm kiếm chị Bùi Thị H1 và lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ nhận định:
Về tố tụng:
Bà Đỗ Thị Nh (là mẹ đẻ của chị Bùi Thị H1) yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Bùi Thị H1 đã chết là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Bùi Thị H1 có nơi cư trú cuối cùng tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của bà Đỗ Thị Nh, thấy rằng: Căn cứ vào lời khai của người yêu cầu, kết quả điều tra, xác minh với chính quyền địa phương và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ việc dân sự, có cơ sở xác định như sau:
Chị Bùi Thị H1 có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Ngày 02/6/2011 (âm lịch) tức ngày 02/7/2011 (dương lịch) chị H1 bỏ đi khỏi nơi cư trú không thông tin liên lạc về gia đình, địa phương. Gia đình và người thân của chị H1 đã đi tìm kiếm chị H1 nhiều nơi nhưng không thấy và không ai biết chị H1 ở đâu.
Sau 11 năm kể từ ngày chị H1 bỏ đi, chị Bùi Thị H1 vẫn không trở về và không có bất kỳ tin tức xác thực nào về việc chị H1 còn sống.
Quá trình thụ lý, giải quyết, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 02/2022/QĐ-TA ngày 26/10/2022 đối với chị Bùi Thị H1 trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Báo Công Lý theo đúng quy định tại Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự (cụ thể: đã đăng tin tìm kiếm trên báo Công Lý trong ba số báo liên tiếp là số 87 ngày 02/11/2022, số 88 ngày 04/11/2022 và số 89 ngày 09/11/2022; phát trên sóng VOV2 Đài tiếng nói Việt Nam 3 lần liên tiếp vào các ngày 01, 02, 03 tháng 11 năm 2022) song đến nay đã quá thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (01/11/2022) vẫn không có tin tức gì của chị Bùi Thị H1.
Tại khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự quy định:
“1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người đã chết trong các trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”.
Do đó, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Nh về việc tuyên bố chị Bùi Thị H1 đã chết do chị H1 đã biệt tích hơn 05 năm liền mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống.
Về việc xác định ngày chị Bùi Thị H1 chết: Căn cứ khoản 1 Điều 68; điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, ngày chết của chị H1 được xác định là ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn 05 năm kể từ ngày biết được tin tức cuối cùng của chị H1. Bà Nh trình bày chị H1 bỏ nhà đi vào ngày 02/6/2011 (âm lịch) tức là ngày 02/7/2011 (dương lịch). Do đó, ngày kết thúc thời hạn 05 năm là ngày 02/7/2016 nên xác định ngày chết của chị Bùi Thị H1 là ngày 03/7/2016.
Về chi phí, lệ phí:
Đối với chi phí cho việc đăng, phát Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Bà Đỗ Thị Nh đã thanh toán xong nên không đặt ra giải quyết.
Về lệ phí: Bà Đỗ Thị Nh phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Nh, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
2. Tuyên bố: Chị Bùi Thị H1, sinh ngày 19/10/1992, nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình đã chết.
Thời điểm chết của chị Bùi Thị H1 được xác định là ngày 03/7/2016 (ngày mồng ba tháng bảy năm hai nghìn không trăm mười sáu).
3. Kể từ ngày Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân của chị Bùi Thị H1 được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
4. Về lệ phí: Bà Đỗ Thị Nh phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Nh đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004858 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền lệ phí. Bà Nh đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ Tòa án ra Quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định./.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Người yêu cầu; - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ và UBND xã Q (khi quyết định có hiệu lực pháp luật); - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Lê Thị Phượng |