vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 01/02/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị Bích N về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Lê Văn T được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Bích N được miễn tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị Bích N về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐDS-STQuy Nhơn, ngày 01 tháng 02 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v : “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Cao Thị Phương Thảo

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên họp: Bà Tô Thị Bích Trâm - Kiểm sát viên

Ngày 01 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 17/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 8 năm 2022 về “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2023/QĐST-VDS ngày 18 tháng 01 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây :

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Bích N , trú tại: 08 Võ Mười, P. Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Thị Mộng Bạch T , trú tại: số 07 Biên Cương, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

2. Chị Lê Thị Thuý N , trú tại: số 40/8 Bàu Cát 1, phường 14, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của chị Lê Thị Thuý N : Chị Lê Thị Mộng Bạch T , trú tại: số 07 Biên Cương, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (văn bản uỷ quyền ngày 16 tháng 8 năm 2022 tại Văn phòng Công chứng Thanh Bình).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 03 tháng 8 năm 2022, tại bản tự khai Toà án của người yêu cầu và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ việc dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Trần Thị Bích N trình bày:

Bà và ông Lê Văn T là vợ chồng, quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là Lê Thị Mộng Bạch T , sinh năm: 1962 và Lê Thị Thuý N , sinh năm: 1965. Ông Lê Văn T , sinh năm 1943, quê quán xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Vào năm 1965, ông Thân đi lính cho chế độ cũ. Thời điểm cuối cùng ông Thân có liên lạc với gia đình là tháng 6 năm 1965. Từ đó đến nay, gia đình bà không nhận được bất kỳ tin tức gì của ông T cũng như ông T không có liên lạc gì với gia đình nữa. Công an phường Ngô Mây, TP.Quy Nhơn, tỉnh Bình Định có xác nhận: ông Lê Văn T không có mặt tại địa phương nơi cư trú.

Bà và ông Lê Văn T là vợ chồng, quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là Lê Thị Mộng Bạch T , sinh năm: 1962

Bà Trần Thị Bích N đã làm thủ tục tìm kiếm thông tin của ông T trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 04 tháng. Đến nay đã hết thời hạn đăng tin nhưng bà N vẫn không có tin tức gì về ông Thân là còn sống. Ông T cũng không có liên lạc gì với bà N và gia đình.

Nay bà N yêu cầu Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn tuyên bố một người là đã chết đối với ông Lê Văn T , sinh năm: 1943 để gia đình bà làm các thủ tục về tài sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Lê Thị Mộng Bạch T và là đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thuý N trình bày:

Chị và chị N là con của bà Trần Thị Bích N và ông Lê Văn T . Nay các chị thống nhất như ý kiến của mẹ chị là bà Trần Thị Bích N trình bày liên quan đến ông Lê Văn T , yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Văn T là đã chết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm về giải quyết việc dân sự như sau:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, các đương sự kể từ khi thụ lý vụ việc và trong quá trình giải quyết việc dân sự đến khi mở phiên họp đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; người tham gia phiên phiên họp đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa áp dụng Điều 391, 392 và 393 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự; Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị Bích N về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. Tuyên bố ông Lê Văn T , sinh năm: 1943, nơi cư trú cuối cùng: 08 Võ Mười, P. Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã chết ngày 30 tháng 4 năm 1980.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nhận định:

Về thẩm quyền: Ông Lê Văn T có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại 08 Võ Mười, phường Ngô Mây, TP. Quy Nhơn, Bình Định. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc bà Ngọc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Lê Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn theo trình tự sơ thẩm.

Về nội dung: Người yêu cầu bà Trần Thị Bích N đã xuất trình tại hồ sơ chứng cứ xác nhận của Công an phường Ngô Mây, TP.Quy Nhơn, tỉnh Bình Định về việc ông Lê Văn T không có mặt tại địa phương nơi cư trú. Bà N đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức xác thực về ông Lê Văn T , sinh năm: 1943. Từ tháng 6 năm 1965 đến nay, ông T không liên lạc với gia đình và không ai trong gia đình liên lạc được với ông Thân.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022 Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Lê Văn T , bà N đã thực hiện xong việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (đăng báo Pháp luật 03 kỳ liên tiếp và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh trong 03 ngày liên tiếp). Việc đăng tin thực hiện đúng theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đến nay đã hết thời hạn công bố thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (04 tháng) vẫn không có tin tức xác thực ông Lê Văn T còn sống. Do đó, căn cứ vào điểm d điều 71 Bộ luật dân sự. Toà chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Bích N về việc tuyên bố ông Lê Văn T đã chết là đúng quy định pháp luật.

Về ngày chết của ông Lê Văn T : theo qui định tại điểm b, khoản 1 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự thì ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết được tính “biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Như vậy, ngày chết của ông T là sau 05 năm kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 tức ngày 30 tháng 4 năm 1980.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Căn cứ Điều 72, Bộ luật dân sự thì:

- Quan hệ hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của người bị toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Trường hợp ông Lê Văn T trở về hoặc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tin xác thực ông Lê Văn T còn sống thì bà N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Toà án huỷ bỏ Quyết định tuyên bố ông Lê Văn T là đã chết. Khi quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ tài sản của ông T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn về quan điểm giải quyết việc dân sự phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án của Uỷ b an thường vụ Quốc Hội. Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho bà Trần Thị Bích N vì thuộc trường hợp người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 71, 72,73 Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào khoản 4, điều 27, điểm a khoản 2 điều 35, điểm b khoản 2 điều 39, và Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị Bích N về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. Tuyên bố ông Lê Văn T , sinh năm: 1943, nơi cư trú cuối cùng: 08 Võ Mười, P. Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã chết ngày 30 tháng 4 năm 1980.

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Lê Văn T được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Bích N được miễn tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

5. Quyền yêu cầu thi hành án,nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ