vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐ-PT — Dân sự

TAND tỉnh Yên Bái Tuyên án 18/08/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ông Lã Văn L. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sơ thẩm số: 09/2023/QĐST-DS ngày 13-7-2023 của Toà án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái.

Về án phí: Ông Lã Văn L được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Xét kháng cáo quyết định đình chỉ của ông Lã Văn L"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ông Lã Văn L. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sơ thẩm số: 09/2023/QĐST-DS ngày 13-7-2023 của Toà án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐ-PTYên Bái, ngày 18 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có

Thẩm phán- Chủ toạ phiên họp:

Ông Vũ Dũng

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Mai Hằng

Bà Nguyễn Thị Thu Lan

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 09/2023/QĐST-DS ngày 13-7-2023. Toà án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái đã căn cứ vào Điều 147, khoản 4 Điều 157, khoản 4 Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 218; 219, 227, 235, 271 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc: “Tranh chấp hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Lã Văn L, bà Nguyễn Thị T. Cùng địa chỉ: Thôn ĐT, xã YB, huyện YB, tỉnh Yên Bái.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A, bà Hoàng Kim T1, ông Lê Thanh S - Luật sư Văn phòng Luật sư AIC, đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Phòng 902 – Toà nhà 17 T4 khu đô thị mới TH - NC, đường HĐT, quận TX, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Bà Vũ Thị M. Địa chỉ: Thôn M, xã VK, huyện YB, tỉnh Yên Bái.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Đinh Thị Thu H - Luật sư thuộc Công ty luật HLT và cộng sự, đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Địa chỉ: 123, đường TĐN, phường DV, quận CG, thành phố Hà Nội.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Văn T2, ông Đặng Văn T3 Cùng địa chỉ: Thôn M, xã VK, huyện YB, tỉnh Yên Bái.

2/ Ông Đoàn Văn T4, bà Trần Thị P, anh Nguyễn Thanh K Cùng địa chỉ: Thôn T O, xã VK, huyện YB, tỉnh Yên Bái.

3/ Ông Nguyễn Đức T5 Địa chỉ: Tổ dân phố số 01, thị trấn TB, huyện YB, tỉnh Yên Bái.

4/ Anh Nguyễn Văn Q Địa chỉ: Tiểu khu BV, thị trấn Nông trường MC, tỉnh Sơn La.

Tại đơn kháng cáo ngày 21-7-2023 và đơn kháng cáo bổ sung ngày 26-7-2023, nguyên đơn là ông Lã Văn L kháng cáo không nhất trí với quyết định đình chỉ, với lý do: Không nhất trí với nhận định của Toà án cấp sơ thẩm về việc nguyên đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Trong khi ông Lã Văn L đã có đơn xin hoãn phiên toà.

XÉT THẤY:

. Theo đơn khởi kiện ngày 07-7-2022 thể hiện: nguyên đơn là ông Lã Văn L, bà Nguyễn Thị T khởi kiện bà Vũ Thị M về các nội dung: “Yêu cầu công nhận hợp đồng đổi đất ngày 30-12-2017 giữa ông Lã Văn L và bà Vũ Thị M; Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.”

Ngày 05-9-2022 bà Vũ Thị M có “Đơn phản tố” với nội dung: “…tôi có ý kiến bác bỏ những nội dung khởi kiện của ông L và bà T”. Với nội dung này, yêu cầu của bà Vũ Thị M không có nội dung phản tố mà chỉ là ý kiến phản đối của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn đưa ra.

Ngày 29-5-2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Q có “Đơn yêu cầu độc lập” với nội dung: “…Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tuyên bố giao dịch đổi đất rừng giữa ông Lã Văn L với bà Vũ Thị M, giao dịch góp vốn mua đất vườn rừng giữa bà Vũ Thị M với ông Nguyễn Văn B, ông Đặng Văn T3 là vô hiệu; công nhận quyền sử dụng đất số 1947 là của ông Nguyễn Văn Q do được bố mẹ tặng cho”. Yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Văn Q được gửi cho Toà án cấp sơ thẩm tại giai đoạn xét xử, sau khi đã tiến hành phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Nên việc Toà án cấp sơ thẩm không thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các đương sự khác trong vụ án đều không có yêu cầu độc lập.

Với các nội dung trên, vụ án thuộc trường hợp chỉ có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự khác.

. Ngày 05-5-2023, Toà án cấp sơ thẩm đã mở phiên toà xét xử lần thứ nhất, các đương sự đều đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nhưng phải hoãn phiên toà do nguyên đơn, ông Lã Văn L, bà Nguyễn Thị T và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đều vắng mặt. Tại Thông báo mở lại phiên toà số: 01/TB-TA ngày 17-5-2023 đã ấn định thời gian mở lại phiên toà vào ngày 06-6-2023, Thông báo này đã được tống đạt hợp lệ đến các đương sự.

. Ngày 06-6-2023, Toà án cấp sơ thẩm mở phiên toà xét xử lần thứ hai, nhưng hoãn phiên toà do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Q vắng mặt, có đơn xin hoãn phiên toà. Tại Thông báo mở lại phiên toà số: 02/TB-TA ngày 26-6-2023 đã ấn định thời gian mở lại phiên toà vào ngày 13-7-2023. Thông báo này đã được tống đạt hợp lệ đến các đương sự.

. Ngày 12-7-2023ông Lã Văn L có đơn xin hoãn phiên toà với lý do: …“Thường xuyên phải điều trị bệnh mãn tính, sức khoẻ chưa hồi phục, chưa đảm bảo tham gia phiên toà… đồng thời đang chờ kết quả giải quyết nội dung khiếu nại về sự không vô tư, khách quan của Thẩm phán…Nên đề nghị hoãn phiên toà xét xử vào thời gian khác sau khi đã giải quyết nội dung khiếu nại…”. Ngoài đơn đề nghị hoãn phiên toà, ông Lã Văn L không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì khác.

. Tại phiên toà ngày 13-7-2023, nguyên đơn ông Lã Văn L, bà Nguyễn Thị T vắng mặt, những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đều vắng mặt không có lý do.

. Với các nội dung nêu trên, thể hiện, nguyên đơn, ông Lã Văn L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt tại phiên toà. Không giao nộp được các tài liệu thể hiện đang gặp trở ngại khách quan hoặc trong tình thế bất khả kháng không thể tham gia phiên toà. Đồng thời không uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng tại phiên toà.

Vì vậy, việc Toà án cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án do “Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải có mặt tại phiên toà…Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện…” là đúng. Vì vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, ông Lã Văn L nêu ra.

. Do ông Lã Văn L là người cao tuổi, nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ông Lã Văn L. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sơ thẩm số: 09/2023/QĐST-DS ngày 13-7-2023 của Toà án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái.

2. Về án phí: Ông Lã Văn L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ