vanban.org

Quyết định 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 05/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HS-ST
Ngày 05-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bấm

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1974 tại tỉnh N. Nơi cư trú: Xóm 12, xã Ng, huyện Ng, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Th (đều đã chết); có chồng Đỗ Văn S (đã ly hôn) và có 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án số 16/2016/HS-ST ngày 02/3/2016, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại bản án số 48/2019/HS-ST ngày 19/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 77/2021/HS-ST ngày 18/5/2021, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 26/9/2022; tạm giam ngày 01/10/2022; có mặt.

1

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số 8B/450 đường P, phường Đ, quận H, thành phố H; vắng mặt.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 26/9/2022, Nguyễn Thị L đi bộ một mình từ cầu vượt Lạch Tray về lô 22 đường Lê Hồng Phong, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xem ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Đến 09 giờ 15 phút cùng ngày, L đi đến quán bánh xèo Bình Định tại số 354 lô 22 đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng của chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số 8B/450 đường P, phường Đ, quận H, thành phố H thì thấy quán không có khách, chỉ thấy chị D đang rửa rau ở phía sau quán, L nảy sinh ý định đi vào trong quán xem có tài sản gì thì trộm cắp. Khi vào trong quán, L thấy ở trên mặt bàn bên trái cách cửa quán khoảng 5cm có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E72 màu trắng của chị D, L dùng tay trái lấy chiếc điện thoại đút vào túi quần bên trái, phía trước và đi ra khỏi cửa quán thì bị chị D phát hiện, bắt giữ và đưa L đến cơ quan Công an trình báo. Cơ quan Công an thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E72 màu trắng.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐ ngày 28/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng kết luận: “Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E72 đã qua sử dụng màu trắng tại thời điểm bị xâm hại có giá 300.000 đồng”.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E72 màu trắng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt (theo biên bản trả lại đồ vật ngày 17/10/2022) và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 02/CT-VKSNQ ngày 12/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội D bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố.

Bị hại Chị Nguyễn Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã được công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

2

Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị L với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự: Đã thu hồi trả lại cho bị hại; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

+ Về sự vắng mặt của bị hại:

Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ nhưng bị hại chị Nguyễn Thị D vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị D .

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 26/9/2022 tại quán bánh xèo Bình Định tại số 354 lô 22 đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng , Nguyễn Thị L lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu hợp pháp L đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị D là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E72 màu trắng, theo kết luận định giá tài sản

3

59/KL-HĐ ngày 28/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng kết luận: “Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E72 có giá 300.000 đồng. Mặc dù lần phạm tội này trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, tuy nhiên do bị cáo đã có 03 tiền án đều về tội chiếm đoạt chưa được xóa án. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa trong khu dân cư.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân bị cáo:

Bị cáo có 03 tiền án đều về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay lại phạm tội do lỗi cố ý. Như vậy chứng tỏ bị cáo không có ý thức cải tạo tu dưỡng để làm người công dân lương thiện. Vì vậy, cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét bị cáo Nguyễn Thị L không có công việc, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Nguyễn Thị D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Thị L, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

4

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị L 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 9 năm 2022.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại chị Nguyễn Thị D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- Bị hại;

- TAND TP Hải Phòng;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND quận Ngô Quyền;

- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;

Nguyễn Bích Phượng

- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;

- PV06 Công an thành phố Hải Phòng;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- Lưu hồ sơ vụ án.

5

6

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

7

Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- Bị hại;

- TAND TP Hải Phòng;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND quận Ngô Quyền;

- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;

Nguyễn Bích Phượng

- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;

- PV06 Công an thành phố Hải Phòng;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- Lưu hồ sơ vụ án.

8

9

Cỡ chữ