vanban.org

Quyết định 01/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 28/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt bị đơn chị Bạch Thị Thúy H.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chị Bạch Thị Thúy H trả nợ 1.050.000.000 đồng. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo thủ tục chung. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn chị Bạch Thị Thúy H phải trả cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L, anh Hà Phi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án dân sự"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt bị đơn chị Bạch Thị Thúy H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/DS-ST
Ngày: 28/3/2023
V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa ph tòa: Ông Trần Đức Chính

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Cừ

Ông Dương Cao Sơn

- Thư ký ph tòa: Bà Trương Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tham gia ph tòa: Bà Phạm Thị Kiều Trang, kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ L số: 27/2022/TLST - DS ngày 09 tháng 11 năm 2022.Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-DS ngày 02/3/2023, giữa các đương sự:

I. Nguyên đơn:

1. Chị Nguyễn Thị Hoa L, sinh năm 1976;Trú tại: Số nhà 16, đường N, phường T, thành phố H, Tĩnh Hà Tĩnh, có mặt

2. Anh Hà Phi H, sinh năm 1974;Trú tại: Số nhà 16, đường N, phường T, thành phố H, Tĩnh Hà Tĩnh, có mặt

II. Bị đơn:

1. Chị Bạch Thị Thúy H, sinh năm 1975; Trú tại: Số nhà 12, đường N, phường N,

thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại ph tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L trình bày:

Do có mối quan hệ là bạn bè thân thiết với chị Bạch Thị Thúy H vợ chồng chị đã nhiều lần cho chị H vay tiền , thời hạn vay 01 tháng với mục đích tất toán khoản vay tại Ngân hàng để giải thế chấp thửa đất mang tên chị Bạch Thị Thúy H, chị H hứa sẽ thanh toán khoản vay khi bán đất, do tin tưởng nên vợ chồng anh chị đã cho chị H vay 2.050.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng VietcomBank, số tài khoản 0201000394775 của chị Bạch Thị Thúy H. Cụ thể : Ngày 06/3/2022 là: 200.000.000 đồng; ngày 18/4/2022 là 200.000.000 đồng, ngày 19/4/2022 là 200.000.000 đồng; ngày 05/5/2022 là 300.000.000 đồng ngày 13/5/2022 là 400.000.000 đồng; Ngày 20/5/2022 là: 400.000.000 đồng; ngày 24/6/2022 là 100.000.000 đồng và ngày 30/6//2022 là 250.000.000 đồng, đến ngày 23/8/2022 chỉ ghi giấy mượn tiền 1.000.000.000 đồng không ghi lãi suất, ngày 14/11/2022 vợ chồng chị phát hiện chị Bạch Thị Thúy H đã chuyển nhượng nhà và đất trên cho chị Đặng Thị H nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng chị. Tại phiên tòa chị rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 1.050.000.000 đồng, yêu cầu chị Bạch Thị Thúy H phải trả cho vợ chồng số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy mượn tiền không yêu cầu tiền lãi, yêu cầu chị H phải trả lãi suất chậm thi hành án theo quy định.

+ Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Hà Phi H trình bày:

Chị Bạch Thị Thúy H là bạn bè thân thiết với vợ, do tin tưởng lời hứa của chị H tất toán khoản vay tại ngân hàng lấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất tại ngân hàng ra bán nhà , đất trả tiền cho anh chị nên từ ngày 06/3/2022 đến ngày 20/6/2022 vợ anh đã chuyển cho chị H số tiền 2.050.000.000đồng, sau nhiều lần đòi không trả đến ngày 23/8/2022 chỉ ghi giấy mượn tiền 1.000.000.000 đồng không ghi lãi suất, ngày 14/11/2022 vợ chồng anh phát hiện chị Bạch Thị Thúy H đã chuyển nhượng nhà và đất trên cho chị Đặng Thị H nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ . Tại phiên tòa anh rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 1.050.000.000 đồng, yêu cầu chị Bạch Thị Thúy H phải trả cho vợ chồng số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy mượn tiền không yêu cầu tiền lãi, yêu cầu chị H phải trả lãi suất chậm thi hành án theo quy định.

Đối với bị đơn chị Bạch Thị Thúy H: Sau khi thụ L chị H không có mặt tại địa phương , Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương niêm yết thông báo thụ L, giấy triệu tập và thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ và Hòa giải, ngày 28/11/2022, khoảng 16 giờ ngày 12/12/2022 chị Bạch Thị Thúy H đến Tòa án, sau khi được thẩm phán giải thích và đề nghị làm bản tự khai nhưng chị H lấy L do sức khỏe và hẹn ngày hôm sau đến làm việc nhưng không đến, Tòa án đã trực tiếp đến giao nhiều lần giấy triệu tập và thông báo phiên hòa giải nhiều lần nhưng chị H đều vắng mặt, ngày 14/02/2023 Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương đến nhà chị Bạch Thị Thúy H để lấy lời khai, mặc dù đã được thẩm phán giải thích nhưng chị H không hợp tác bỏ đi nên không lấy được lời khai. Tòa án lập biên bản sự việc làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định. Việc thụ Lý đơn, lập hồ sơ, thu thập chứng cứ, mở phiên họp công bố chứng cứ và hòa giải, xác minh và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục của phiên tòa dân sự sơ thẩm theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Bị đơn: Chị Bạch Thị Thúy H từ khi bị khởi kiện đã không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật TTDS.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 463, khoản 1 Điều 465, khoản 1 Điều 466 khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự : Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chị Bạch Thị Thúy H trả nợ 1.050.000.000 đồng.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc bị đơn chị Bạch Thị Thúy H phải trả cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Hà Phi H số tiền 1.000.000.000đồng và lãi suất chậm thi hành theo quy theo Giấy mượn tiền đề ngày 23/8/2022.

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị đơn phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi ngh cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[I]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1]. Chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Hà Phi H khởi kiện yêu cầu chị Bạch Thị Thúy H thanh toán số 1.000.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 23/8/2022, nên xác định tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú và nơi thực hiện hợp đồng là tại thành phố Hà Tĩnh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố đã ban hành và niêm yết Thông báo thụ L vụ án; Thông báo ph họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (04 lần), Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn ph tòa và tống đạt hợp lệ cho chị Bạch Thị Thúy H nhưng chị H đều vắng mặt không rõ L do. Do đó, Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Bộ luật tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt chị H theo quy định. Chị Bạch Thị Thúy H không xuất trình bất kỳ tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình nên phải chịu hậu quả về việc không đưa ra chứng cứ để chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Xét rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện và quá trình làm việc chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Hà Phi H cho rằng số tiền chị Bạch Thị Thúy H vay là 2.050.000.000 đồng thể hiện tại bản sao kê ngân hàng, tại ph tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Hà Phi H rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là 1.050.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là ý chí tự nguyện phù hợp với tài liệu, chứng cứ, căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 1.050.000.000 đồng. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo thủ tục chung.

. Xét yêu cầu khởi kiện số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 23/8/2022 không có ký hạn và không có lãi suất. Theo nguyên đơn trình bày đã đòi nợ bị đơn nhiều lần (trực tiếp và nhắn tin qua Zalo) bị đơn hứa khi nào chuyển nhượng nhà đất sẽ thanh toán, ngày 01/11/2022 bị đơn đã làm thủ tục chuyển nhượng đất tại số 12, đường N, phường Nam Hà, thành phố H cho chị Đặng Thị Thu H và ngày 28/11/2022 chị H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bị đơn không trả nợ cho nguyên đơn. Vì vậy, theo khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự nguyên đơn có quyền khởi kiện bị đơn trả nợ.

. Đơn khiếu nại của chị Bạch Thị Thúy H không ghi ngày tháng chuyển qua đường bưu điện chuyển ngày 16/11/2022 thừa nhận có vay của chị L, anh H số tiền 1.000.000.000 đồng. Tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên thực hiện có năng lực hành vi dân sự, hình thức và nội dung vay tiền không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 465, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ được chấp nhận, buộc bị đơn chị Bạch Thị Thúy H có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L, anh Hà Phi H 1.000.000.000 đồng tiền gốc và phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

.Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu nên miễn xét.

. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tại ph tòa là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 47 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 244, Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 463, khoản 1 Điều 465, khoản 1 Điều 466 khoản 1,2 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Xét xử vắng mặt bị đơn chị Bạch Thị Thúy H.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chị Bạch Thị Thúy H trả nợ 1.050.000.000 đồng. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo thủ tục chung.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn chị Bạch Thị Thúy H phải trả cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L, anh Hà Phi H số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ) đồng Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án chị Nguyễn Thị Hoa L, anh Hà Phi H có đơn đề nghị thi hành án, người thi hành án chị Bạch Thị Thúy H không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì được thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: Buộc chị Bạch Thị Thúy H phải chịu 42.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Hà Phi H 36.500.000đ đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh theo biên lai thu tiền số AA/ 0001163 ngày 09 tháng 11 năm 2022.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ