- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "ẨN - DANH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Ngọc A. Tuyên bố ông Trần Văn D, sinh năm 1970, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 2, Đường số 12, khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2022/QĐST-VDS | Thành phố Tây Ninh, ngày 28 tháng 3 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Duyên.
- Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST-VDS ngày 22 tháng 02 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2022/QĐST-VDS ngày 17 tháng 3 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Ngọc A, sinh năm 1972
Địa chỉ: Số nhà 2, Đường số 12, khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Trần Văn D, sinh năm 1970
Địa chỉ: Số nhà 2, Đường số 12, khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
* Người giám hộ đương nhiên của ông Trần Văn Danh: Cụ Trần Văn Cu, sinh năm 1931 (cha ruột).
2/ Cụ Trần Văn C, sinh năm 1931; địa chỉ: Số nhà 2, Đường số 12, khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
3/ Bà Trần Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp S, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
4/ Ông Trần Văn K, sinh năm 1964; địa chỉ: Ấp G, xã BM, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
5/ Ông Trần Văn N, sinh năm 1966; địa chỉ: Khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
6/ Bà Trần Thị L, sinh năm 1968, địa chỉ: Tổ 3, ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
7/ Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1976; địa chỉ: Số nhà 2, Đường số 12, khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
8/ Bà Trần Thị Ngọc Kiều, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp K, xã B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
9/ Bà Nguyễn Thúy N, sinh năm 1969
10/ Cháu Trần Minh T, sinh năm 2006
* Người đại diện theo pháp luật của cháu Trần Minh T: Bà Nguyễn Thúy N, sinh năm 1969 (mẹ ruột)
Cùng địa chỉ: Số nhà 43, ấp L, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
11/ Chị Trần Thị Kim L, sinh năm 1981
12/ Anh Trần Thanh P, sinh năm 1984
Cùng địa chỉ: Khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
13/ Anh Trần Hoài P, sinh năm 1996
Địa chỉ: Ấp P, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông Trần Ngọc A trình bày:
Cha mẹ ông là cụ Trần Văn C, cụ Nguyễn Thị N có 10 người con chung: Ông Trần Văn H (chết) có vợ hợp pháp là bà Nguyễn Thúy N và 03 người con gồm: Trần Thị Kim L, Trần Thanh P, Trần Hoài P, Trần Minh T; bà Trần Thị Kim X (chết lúc nhỏ); bà Trần Thị T; ông Trần Văn K; ông Trần Văn N; bà Trần Thị L; ông Trần Văn D; ông Trần Ngọc A; bà Trần Thị Ngọc T; bà Trần Thị Ngọc K.
Ông A là con trai út sống cùng cha mẹ từ lúc nhỏ cho đến nay. Cụ Nguyễn Thị N, chết ngày 21/9/2005.
Ông Trần Văn D có dấu hiệu bị bệnh tâm thần từ lúc khoảng 14-15 tuổi, không có vợ con nên ông D cũng sống chung nhà với cha mẹ. Lúc ở nhà thì ông D không nhận ra người thân trong gia đình, thường hay cầm dao, rựa chặt chém, đập phá đồ đạc trong nhà, không ai dám tiếp xúc, nên gia đình đã đưa ông D đi điều trị bệnh tại Tâm thần Trung Ương 2 - Biên Hòa khoảng gần 20 năm nay. Lúc đầu ở Bệnh viện vài tháng rồi về nhà, khoảng 10 năm nay thì ông D ở suốt trong Bệnh viện, thỉnh thoảng ông A có đưa ông D về nhà được 1-2 ngày thì vào Bệnh viện lại. Khoảng hơn 02 năm nay ông D ở hẳn trong Bệnh viện, mỗi tháng gia đình chỉ đi thăm và chuyển tiền cho Bệnh viện. Hiện tại sức khỏe ông D yếu đi, ở Bệnh viện có thuốc uống nên không đập phá nhưng vẫn không khỏi bệnh.
Gia đình chỉ đưa ông D đi bệnh viện điều trị bệnh, chưa lần nào đưa ông D đi giám định sức khỏe tâm thần. Ông Trần Văn D được cấp Giấy xác nhận khuyết tật Số hiệu: 72/NT/125 của UBND xã T (nay là phường T), ngày 30/8/2013, dạng khuyết tật thần kinh, tâm thần mức độ nặng, hàng tháng được UBND phường T trợ cấp tiền theo chế độ.
Nay ông Trần Ngọc A yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn D mất năng lực hành vi dân sự để làm thủ tục chia đất của cha mẹ cho các con và chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cụ C, cụ N cho người khác theo quy định của pháp luật, đồng thời cử ông Trần Ngọc A làm người giám hộ, là người đại diện hợp pháp cho ông D.
Cụ Trần Văn Cu trình bày:
Cụ C là cha ruột của ông Trần Văn D, cụ thống nhất theo lời trình bày của ông A, hiện nay ông A là người đại diện cho gia đình trực tiếp liên lạc và chu cấp tiền hàng tháng của ông D cho bệnh tại Tâm thần Trung Ương 2 - Biên Hòa. Cụ C chấp nhận theo đơn yêu cầu của ông A, đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Văn D mất năng lực hành vi dân sự để ông phân chia tài sản cho các con sử dụng hợp pháp và làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác theo quy định của pháp luật. Cụ C là người giám hộ đương nhiên cho ông D, nhưng do tuổi cao, sức khỏe yếu, đi lại khó khăn nên cụ C đồng ý cử ông Trần Ngọc A làm người giám hộ cho ông Trần Văn D cho đến khi ông D khỏi bệnh hoặc chết.
Bà bà Trần Thị T, ông Trần Văn K, ông Trần Văn N, bà Trần Thị L, bà Trần Thị Ngọc T, bà Trần Thị Ngọc K, bà Nguyễn Thúy N, chị Trần Thị Kim L, anh Trần Thanh P, anh Trần Hoài P thống nhất trình bày:
Ông Trần Văn D bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không có vợ con, gia đình đã đưa ông D đi bệnh viện Tâm thần Trung Ương 2 - Biên Hòa điều trị khoảng 20 năm nay nhưng vẫn không khỏi bệnh, nên các ông bà, anh chị đều chấp nhận theo đơn yêu cầu của ông A, đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Văn D mất năng lực hành vi dân sự để cụ Trần Văn C làm thủ tục phân chia tài sản cho các con và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác, đồng thời cũng đồng ý cử ông Trần Ngọc A làm người giám hộ cho ông Trần Văn D.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh: Căn cứ Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Ngọc Ẩn về việc tuyên bố ông Trần Văn Danh mất năng lực hành vi dân sự; đương sự phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh nhận định:
Từ khoảng năm 1984 đến nay ông Trần Văn D, sinh năm 1970, địa chỉ: Số nhà 2, Đường số 12, khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị bệnh tâm thần không nhận thức được hành vi của mình, phải điều trị tại bệnh tại Tâm thần Trung Ương 2 - Biên Hòa khoảng 20 năm nay nhưng vẫn không khỏi bệnh. Ông Trần Văn D được UBND xã T cấp Giấy xác nhận khuyết tật Số hiệu: 72/NT/125, ngày 30/8/2013, dạng khuyết tật thần kinh, tâm thần mức độ nặng.
Sau khi thụ lý yêu cầu của ông Trần Ngọc A, ngày 02/3/2022 ông A có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định sức khỏe, tâm thần đối với ông Trần Văn D. Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh đã ra Quyết định số: 01/2022/QĐ-TA ngày 03/3/2022 trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa giám định pháp y tâm thần đối với ông Trần Văn D. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 111/KL-VPYTW ngày 14/3/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đã kết luận:
- “Về y học: Hiện nay đương sự bị bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5-ICD.10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Do đó, yêu cầu của ông A đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Văn D mất năng lực hành vi dân sự là có cơ sở chấp nhận.
Về người giám hộ của ông Trần Văn D: Cụ Trần Văn C là cha ruột của ông Danh - người giám hộ đương nhiên của ông D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đều đồng ý cử ông Trần Ngọc A là người giám hộ cho ông Trần Văn D, căn cứ vào các Điều 48, 49, 53, 54, 62 của Bộ luật Dân sự thì việc cử ông Trần Ngọc A làm người giám hộ cho ông Trần Văn D là có cơ sở chấp nhận.
Về lệ phí: Ông Trần Ngọc A phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Ông Trần Ngọc A phải chịu tiền chi phí cho việc trưng cầu giám định pháp y tâm thần cho ông D 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), ghi nhận ông A đã nộp và chi phí xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 22, 48, 49, 53, 54 của Bộ luật Dân sự; các Điều 376, 377, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Ngọc A. Tuyên bố ông Trần Văn D, sinh năm 1970, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 2, Đường số 12, khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh mất năng lực hành vi dân sự.
2. Công nhận ông Trần Ngọc A là người giám hộ cho ông Trần Văn D.
3. Về lệ phí: Ông Trần Ngọc A chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấu trừ từ số tiền tạm ứng ông A đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000813 ngày 21 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Ông A đã nộp xong lệ phí.
4. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Ngọc A phải chịu tiền chi phí cho việc trưng cầu giám định pháp y tâm thần cho ông Trần Văn D (ghi nhận ông A đã nộp và chi phí xong).
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
- Ông Trần Ngọc A và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND TP. Tây Ninh; - UBND phường T; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu trữ VP-(D). | (Đã ký) Lê Thị Duyên |