- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Thị Làn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu là chị Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 22 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2022/QĐST-VDS | Kinh Môn, ngày 26 tháng 4 năm 2022. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Đào Văn Phúc.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ly.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2022/TLST-VDS ngày 22 tháng 02 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-VDS ngày 14 tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; địa chỉ: KDC NV, phường A, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; (có đơn đề nghị vắng mặt – vắng mặt tại phiên họp).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1940, địa chỉ: KDC NV, phường A, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (có đơn đề nghị vắng mặt – vắng mặt tại phiên họp).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Năm 1996, chị Nguyễn Thị L1 kết hôn với anh Đặng Văn Th1 (Đặng Quốc Th1), sinh năm 1975, đã chết ngày 01/4/2003. Anh chị có 01 con chung là cháu Đặng Thị Ph, sinh năm 1998, đã chết ngày 20/3/2018.
Chị L1 là một trong 5 người con của bà Nguyễn Thị Th và ông Nguyễn Quang Thơ. Ông Thơ đã chết năm 2018. Gia đình không có ai mắc bệnh Tâm Thần. Trước và sau khi kết hôn với anh Đặng Quốc Th1, chị L1 là người khỏe mạnh bình thường và hoàn toàn không có biểu hiện về bệnh thần kinh, vợ chồng anh Th1 làm ăn kinh tế rất tốt. Tuy nhiên, từ khi anh Th1 chết, chị L1 đã có biểu hiện thần kinh không bình thường, bệnh càng nặng hơn khi chị L1 không được gặp cháu Ph vì cháu Ph phải ở cùng bà nội, từ đó bệnh thần kinh của chị L1 ngày càng trở nặng. Khoảng năm 2010, chị L1 được bà Th đón về nhà ở, do chị L1 không như người bình thường nên bà Th để chị L1 ở riêng, sát cạnh nhà rồi đưa chị L1 đi Bệnh viện tâm thần Hải Dương khám và điều trị, điều trị nhiều lần nhưng bệnh của chị L1 vẫn không tiến triển. Đến năm 2016, sau 2 tháng điều trị không khỏi, bệnh viện cho về và được Trạm y tế phường theo dõi, cấp thuốc hàng tháng cho đến nay. Chị L thấy tình trạng bệnh của chị L1 càng nặng thêm, biểu hiện ra bên ngoài là mất hết nhận thức, không nhận biết được người thân, không điều kiển được cảm xúc, hành vi. Để đảm bảo quyền lợi của chị L1 cũng như người thân trong gia đình. Chị Nguyễn Thị L (là chị gái chị L1) đề nghị Tòa án tuyên bố chị L1 là người mất năng lực hành vi dân sự.
Sau khi nhận được Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự và giấy triệu tập đến tham gia phiên họp. Vì lý do bận công việc nên chị L, bà Th có đơn xin vắng mặt tại phiên họp, chị L thể hiện quan điểm vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị L1 là người mất năng lực hành vi dân sự theo Kết luận giám định của Viện pháp y tâm thần Trung ương để có căn cứ đề nghị chính quyền địa phương nơi chị L1 cư trú cử người đại diện, giám hộ cho chị Nguyễn Thị L1 theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự đã đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết, Viện kiểm sát đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L tuyên bố chị Nguyễn Thị L1 là người mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương nhận định:
Về tố tụng: Người yêu cầu - chị Nguyễn Thị L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị L, bà Th đã có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp. Do vậy, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về xác định nội dung yêu cầu phải giải quyết: Người yêu cầu chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị L1 là người mất năng lực hành vi dân sự. Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn đã thụ lý yêu cầu của chị Nguyễn Thị L là phù hợp với quy định tại Điều 376 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về căn cứ chấp nhận yêu cầu đề nghị tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu: Tại Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 60/KLGĐ ngày 08/4/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Tại thời điểm giám định, đối tượng Nguyễn Thị L1 bị bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.5. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Như vậy, chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị L1 là người mất năng lực hành vi dân sự phù hợp với Kết luận giám định sức khỏe tâm thần của Viện pháp y tâm thần Trung ương, phù hợp với nhân thân và tình trạng thực tế của chị Nguyễn Thị L1 tại thời điểm giám định là có căn cứ cần được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí giám định:
Chị Nguyễn Thị L là người yêu cầu nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật; chị Nguyễn Thị L tự nguyện chi trả toàn bộ chi phí giám định (đã thanh toán xong) và không có đề nghị gì về chi phí giám định nên không đặt ra giải quyết.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 367, 369, 370, 371, 372 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 22, 46 của Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu là chị Nguyễn Thị L.
1. Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị L1, sinh ngày 20/9/1977; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: KDC NV, phường A, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; số CCCD: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 14/12/2021, nơi cấp Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự và xã hội, là người mất năng lực hành vi dân sự (mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi).
2. Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự. Được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị L đã nộp tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0001219 do Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn phát hành ngày 22 tháng 02 năm 2022 (chị L đã thực hiện xong việc nộp lệ phí).
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND thị xã Kinh Môn; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn; - Công bố trên CTTĐT của Tòa án; - UBND phường A; - Lưu hồ sơ việc dân sự; | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đào Văn Phúc |