- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Nguyễn Thị B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phước Th.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH QUẢNG NAM -------- Số: 01/2022/QĐST-VDS | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Đ, ngày 27 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ái Linh
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Nguyệt Sương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên họp: Ông Huỳnh Trung Thu - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở TAND huyện Đ, tỉnh Quảng Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2021/TLST-VDS ngày 22 tháng 11 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-VDS ngày 21 tháng 01 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Phước Th, sinh năm 1967, địa chỉ: thôn M, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc yêu cầu:
1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1966, vắng mặt
2. Anh Nguyễn Phước Phong V, sinh năm 1995, có đơn xin vắng mặt
3. Anh Nguyễn Phước Phong T, sinh năm 1989, có đơn xin vắng mặt
Cùng địa chỉ: thôn M, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam .
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu đề ngày 16/11/2021 và tại phiên họp ông Nguyễn Phước Th trình bày:
Năm 1988, ông Th và bà Nguyễn Thị B (sinh năm 1966, trú tại thôn M, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam) tự nguyện kết hôn hợp pháp. Bà Nguyễn Thị B làm nghề giáo viên, từ trước đến nay có tiền sử bệnh cao huyết áp. Ngày 01/7/2021, bà B bị nhồi máu não, được cấp cứu, phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng, đến ngày 14/7/2021 chuyển viện về Bệnh viện D tỉnh Quảng Nam để điều trị tiếp theo. Ngày 02/9/2021, bà B được Bệnh viện cho xuất viện điều trị ngoại trú.
Hiện nay, bà B hoàn toàn sống đời sống thực vật. Theo kết luận giám định y khoa của Hồi đồng Giám định y khoa thuộc Sở y tế tỉnh Quảng Nam thì bà B bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 95%, không tự thực hiện các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
Quá trình thụ lý giải quyết việc dân sự, ông Th đã yêu cầu trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với bà B. Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 91/KLGĐ ngày 20/01/2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực MT kết luận bà Nguyễn Thị B hoàn toàn mất năng lực hành vi dân sự.
Với tư cách là người có quyền lợi và lợi ích trực tiếp liên quan đến việc bà Nguyễn Thị B bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, ông Th yêu cầu Tòa tuyên bố bà Nguyễn Thị B mất năng lực hành vi dân sự. Hiện nay cha mẹ bà Nguyễn Thị B đã chết, ông Th và các con bà Nguyễn Thị B đều thống nhất cử ông Th làm người giám hộ và đại diện theo pháp luật cho bà Nguyễn Thị B thực hiện các thủ tục về nhân thân và các giao dịch dân sự có liên quan đến bà B từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi không còn căn cứ tuyên bố bà B mất năng lực hành vi dân sự.
Tại hồ sơ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc dân sự là Nguyễn Phước Phong Vũ và Nguyễn Phước Phong Toàn thống nhất toàn bộ yêu cầu của ông Th và có đơn đề nghị Tòa giải quyết vắng mặt.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm căn cứ khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 370, 378 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 22, 49, 53, 57, 58, 59, 136 Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Th, tuyên bố bà Nguyễn Thị B mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam nhận định:
Về tố tụng: ông Nguyễn Phước Th yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ ông Th là bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1966, địa chỉ cư trú tại thôn M, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam mất năng lực hành vi dân sự. Đây là việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thực tế tình trạng sức khỏe thể chất và tâm thần của bà B:
Căn cứ lời khai của các đương sự, người làm chứng, kết quả xác minh và các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự thể hiện: Bà Nguyễn Thị B có quá trình sinh đẻ, phát triển về thể chất và tâm thần hoàn toàn bình thường. Bà B có tiền sử bị cao huyết áp từ trước năm 2017, có 02 lần bị tai biến nhẹ vào năm 2017 và 2019 nhưng được điều trị ổn định và sinh hoạt, làm việc bình thường. Ngày 01/7/2021, bà B bị nhồi máu não, được cấp cứu, phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng và Bệnh viện D tỉnh Quảng Nam đến ngày 02/9/2021thì cho xuất viện điều trị ngoại trú. Theo kết luận giám định y khoa của Hồi đồng Giám định y khoa thuộc Sở y tế tỉnh Quảng Nam thì bà B bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 95%, hoàn toàn sống đời sống thực vật, mọi hoạt động phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
Xét yêu cầu của ông Th đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị B mất năng lực hành vi dân sự thì thấy:
Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần số 91/KLGĐ ngày 20/01/2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực MT kết luận bà Nguyễn Thị B “Tỉnh táo, không tiếp xúc được, hỏi không nói, cảm xúc không thích hợp, hay cười; suy giảm trí nhớ và tư duy gây trở ngại cho cuộc sống hàng ngày; đêm ngủ tạm, đại tiểu tiện không tự chủ, việc ăn uống vệ sinh cá nhân do người nhà trực tiếp chăm sóc, chỉ nằm một chỗ, liệt tứ chi; tăng huyết áp” và “Về y học: Mất trí mạch máu khởi phát cấp F01.0). Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự”.
Kết luận này phù hợp với tình trạng hiện nay của bà B và đề nghị của ông Th tại phiên họp. Vì vậy Tòa án có đủ cơ sở để chấp nhận đề nghị của ông Nguyễn Phước Th, tuyên bố bà Nguyễn Thị B mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự.
Về việc cử người giám hộ, đại diện theo pháp luật cho bà Nguyễn Thị B:
Hiện nay cha mẹ bà Nguyễn Thị B là ông Nguyễn C và bà Trần Thị Th đều đã chết, ông Th và các con bà Nguyễn Thị B đều thống nhất cử ông Nguyễn Phước Th giám hộ đồng thời làm người đại diện theo pháp luật cho bà Nguyễn Thị B thực hiện các thủ tục nhân thân và các giao dịch dân sự có liên quan đến bà B từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi không còn căn cứ tuyên bố bà B mất năng lực hành vi dân sự. Xét thấy thỏa thuận trên là tự nguyện và không trái pháp luật, phù hợp với thực tế nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các Điều 370, 371, 372, 37 6 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 22, 49, 53, 57, 58, 59, 136 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phước Th.
1. Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị B (sinh năm: 1966; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam) mất năng lực hành vi dân sự.
2. Cử ông Nguyễn Phước Th làm người giám hộ để chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị B, đồng thời làm người đại diện theo pháp luật cho bà Nguyễn Thị B trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi không còn căn cứ tuyên bố bà B mất năng lực hành vi dân sự.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) ông Nguyễn Phước Th phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003582 ngày 22/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
4. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp không có mặt tại phiên họp thì thời hạn đó tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết và Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Người yêu cầu, người có liên quan - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Nguyễn Thị Ái Linh |