- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "TB Nguyễn Thị L đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu T: Tuyên bố chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2022/QĐST-VDS | TP. Yên Bái, ngày 12 tháng 4 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Hoàng Hải
Thư ký phiên họp: Ông Phan Thái Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lê Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 68/2021/TLST-VDS ngày 15 tháng 11 năm 2021, về việc: Yêu cầu tuyên bố một người đã chết, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2022/QĐST-VDS ngày 04 tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ 14, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Hữu K1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Hữu K2, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 15/11/2021, tại bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Nguyễn Hữu T trình bày:
Bố anh T là ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1949 - đã chết năm 2015 và mẹ anh là bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1948 - đã chết năm 1980 sinh được 05 người con gồm: Anh T, chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970, chị Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1974, chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978, chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980. Sau khi bà Nguyễn Thị Dần (mẹ anh T) chết, bố anh là ông Nguyễn Hữu Đ có kết hôn với bà Bùi Thị L, sinh năm 1955, hiện cư trú tại: Thôn T, xã V, thành phố Y và sinh được 03 người con gồm: Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1984, anh Nguyễn Hữu K1, sinh năm 1986 và anh Nguyễn Hữu K2, sinh năm 1989.
Trong gia đình có em gái anh T là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980, có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Năm 2003 chị Nguyễn Thị L đi khỏi nhà và có nói với gia đình là đi làm ăn nhưng không nói là đi làm gì, ở đâu. Thời điểm đi khỏi nhà thì chị L chưa có chồng, chưa có con. Từ khi chị L đi khỏi nhà đến nay đã 19 năm nhưng không liên lạc với gia đình và gia đình cũng không có bất cứ tin tức gì về chị L. Gia đình anh T cũng đã tìm kiếm ở nhiều nơi và liên lạc với những người thân thích, bạn bè của chị L nhưng từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì, không biết được thông tin xác thực về việc hiện nay chị L đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Gia đình anh T cũng đã trình báo Công an xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái về việc chị L vắng mặt tại địa phương. Nay anh T yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố một người đã chết đối với chị Nguyễn Thị L để gia đình anh làm các thủ tục về tài sản.
Tại bản tự khai chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị Kim T2, chị Nguyễn Thị C, anh Nguyễn Hữu K, anh Nguyễn Hữu K1, anh Nguyễn Hữu K2 là các chị, các em của chị Nguyễn Thị L khai các nội dung tương tự như nội dung anh Nguyễn Hữu T đã trình bày, đều nhất trí với yêu cầu của anh Nguyễn Hữu T và nhất trí đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tuyên bố chị Nguyễn Thị L đã chết.
Tại đơn xin xác nhận ngày 08/11/2021 của anh Nguyễn Hữu T đã được Công an xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã xác nhận: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980, đăng ký thường trú tại thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt tại địa phương từ năm 2003 đến nay không rõ đi đâu, làm gì.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm về giải quyết việc dân sự như sau:
Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, các đương sự từ khi thụ lý và trong quá trình giải quyết việc dân sự đến khi mở phiên họp đúng theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết việc dân sự như sau: Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận đơn yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Nguyễn Hữu T, tuyên bố chị Nguyễn Thị L đã chết.
Về lệ phí, quyền kháng cáo: Giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp. Căn cứ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp. Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái nhận định:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Hữu T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã chết nên yêu cầu giải quyết của anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin giải quyết vắng mặt là hợp lệ. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành mở phiên họp vắng mặt Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung: Em của anh Nguyễn Hữu T là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980. Chung sống cùng gia đình, đến năm 2003 thì chị L đã bỏ nhà đi không để lại địa chỉ hay thông tin gì cho gia đình. Từ đó đến nay, gia đình anh T cùng gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức xác thực về việc chị Nguyễn Thị L ở đâu, còn sống hay đã chết.
Ngày 25/11/2021 Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 49/2021/QĐ-TA và đã thực hiện các thủ tục thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị L trên Báo Công lý 03 lần trong 3 số liên tiếp; trên Đài Tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp và niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái theo quy định nhưng đến nay đã quá thời hạn 04 tháng vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc chị Nguyễn Thị L còn sống hay đã chết. Vì vậy, anh Nguyễn Hữu T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị L đã chết là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 71 Bộ luật Dân sự.
Theo lời trình bày của các đương sự thì không xác định được ngày, tháng biết tin tức cuối của chị L mà chỉ xác định được năm biết tin tức cuối của chị L là năm 2003. Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, ngày chết của chị L được xác định là ngày 01/01/2004.
Trường hợp chị Nguyễn Thị L trở về hoặc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tin tức xác thực chị L còn sống thì chị L và những người này có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ Quyết định tuyên bố chị L đã chết. Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về tài sản của chị L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu T: Tuyên bố chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã chết ngày 01/01/2004.
Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về tài sản và các quan hệ nhân thân khác của chị Nguyễn Thị L được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản và quyền thừa kế về tài sản của chị Nguyễn Thị L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Về lệ phí: Anh Nguyễn Hữu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2021/0000079 ngày 15/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái (Anh T đã nộp đủ tiền lệ phí).
3. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND TP.Yên Bái; - Chi cục THADS TP.Yên Bái; - Các đương sự; - UBND xã V, TP. Yên Bái; - Niêm yết; - Lưu HS, HCTP, KT. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Lê Thị Hoàng Hải |