vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Minh T.

Tuyên bố: bà Lê Thị C (Lê Thị T), sinh năm 1979 và anh Nguyễn Đình T, sinh năm 2003. Nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình là đã chết. Thời điểm chết của bà Lê Thị C (Lê Thị T), anh Nguyễn Đình T là: Ngày 12/02/2011. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Minh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOA LƯ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2022/QĐST- VDS.Hoa Lư, ngày 25 tháng 8 năm 2022.

QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết)

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Vũ Quang Chung.

- Thư ký phiên họp: bà Giang Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư tham gia phiên họp: bà Vũ Thị Thanh Xuân, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tiến hành mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/VDS ngày 25/03/2022 về việc: “ Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo quyết định mở phiên họp số: 01/2022/QĐST-VDS ngày 16/8/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Nguyễn Minh T, sinh năm 1998.

Trú tại: thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

- Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết:

+ Bà Lê Thị C (Lê Thi T, sinh năm 1979; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 2003; vắng mặt.

Đều có nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1996; vắng mặt có lý do.

+ Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1973; vắng mặt có lý do.

Đều trú tại: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình.

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1933; vắng mặt có lý do.

Trú tại: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu, bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên họp chị Nguyễn Minh T trình bầy:

Bố chị là ông Lê Văn L, mẹ chị là bà Lê Thị C (Lê Thị T) kết hôn năm 1995 và sinh sống tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Bố mẹ chị sinh được ba người con, gồm: Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1996; Nguyễn Minh T, sinh năm 1998 và Nguyễn Đình T, sinh năm 2003. Đầu năm 2006, mẹ chị bế theo em trai chị là Nguyễn Đình T bỏ đi biệt tích từ đó không liên lạc với gia đình. Gia đình chị đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm mẹ và em trai, nhưng cho đến nay không có tin tức gì. Nay chị đề nghị Tòa án tuyên bố bà Lê Thị C (Lê Thị T) và anh Nguyễn Đình T là đã chết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bầy nội dung đúng như chị T trình bầy và có cùng quan điểm đề nghị Tòa án tuyên bố bà Lê Thị C (Lê Thị T) và anh Nguyễn Đình T là đã chết.

Tại biên bản xác minh tại Công an xã Trường Yên ngày 31/3/2022, ông Nguyễn Đình Diễn - Trưởng công an xã Trường Yên cung cấp: bà Lê Thị C (Lê Thị T), sinh năm 1979 và anh Nguyễn Đình T, sinh năm 2003 có đăng ký hộ khẩu tại: thôn T, xã T, huyện H. Hiện tại bà C, anh T không có mặt tại địa phương, không khai báo tạm vắng, tạm trú. Tại biên bản xác minh cùng ngày ông Hoàng Văn Hoan

- Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Trường Yên và bà Dương Thị Chúc - Trưởng thôn T, xã T cung cấp: bà Lê Thị C (Lê Thị T), năm 1995 bà C có đăng ký kết hôn và chung sống với ông Nguyễn Văn L tại thôn T, xã T; ông L, bà C có ba người con là cháu: Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Mỹ H và cháu Nguyễn Đình T, không biết vì lý do gì đến năm 2006, bà C (T) bế theo cháu Thi bỏ nhà đi từ đó đến nay không về địa phương, không có tin tức gì. Bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ chị C cung cấp: chị Lê Thị C (Lê Thị T), năm 1995 chị C có đăng ký kết hôn và chung sống với anh Nguyễn Văn L tại thôn T, xã T, anh L, chị C có ba người con là cháu: Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Mỹ H và cháu Nguyễn Đình T. Cuối năm 2005 đầu năm 2006, thì gia đình có xẩy ra mâu thuẫn và chị Lê Thị C (Lê Thị T) bế theo cháu Nguyễn Đình T bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 14/01/2006 (âm lịch). Từ đó đến nay gia đình không có tin tức gì của mẹ con chị C, không biết chị C và cháu T làm gì ở đâu, còn sống hay đã chết.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Căn cứ: khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự; các Điều 391, 392, 393 Bộ luật tố tụng dân sự các Điều 5, 6, 36 và khoản 1 Điều 37 Nghị Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Tòa án:

- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Minh T.

Tuyên bố bà Lê Thị C (Lê Thị T), sinh năm 1979 và anh Nguyễn Đình T, sinh năm 2003. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình là đã chết ngày 12/02/2011.Về quan hệ nhân thân, tài sản của bà C (T) và anh T được giải quyết như đối với người đã chết.Tài sản của bà C (T) và anh T được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế.

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Nguyễn Minh T phải nộp phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên toà Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: bà Lê Thị C (Lê Thị T) và anh Nguyễn Đình T là người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng là thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình theo khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Luyện, chị Hạnh và bà Liền vắng mặt có đơn xin vắng mặt, căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp.

Về Nội dung việc dân sự: bà Lê Thị C (Lê Thị T) và anh Nguyễn Đình T bỏ đi khỏi địa phương xã T, huyện H từ năm 2006, không khai báo tạm vắng, tạm trú. Kể từ năm 2006, cho đến nay gia đình bà C đã tiến hành tìm kiếm, nhưng gia đình vẫn không ai biết tin tức gì của bà C, anh T. Căn cứ Điều 392 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 71 Bộ luật dân sự. Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với bà Lê Thị C (Lê Thị T) và anh Nguyễn Đình T, phát trên Đài tiếng nói Việt Nam các ngày 25, 26, 27 tháng 4/2022. Đăng trên báo Công lý ba số liên tiếp 30, 31, 32 các ngày 15, 19, 22 tháng 4 năm 2022, trên cổng Thông tin điện tử hệ thống Tòa án và cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình. Đến nay đã hết thời hạn 4 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên vẫn không có tin tức gì của bà Cúc (T) và anh T. Tính đến thời điểm hiện tại bà C, anh T đã biệt tích hơn 16 năm không có tin tức gì. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Minh T, theo quy định tại Điều 71 Bộ luật dân sự.

Về thời điểm chết của bà Lê Thị C (Lê Thị T) và anh Nguyễn Đình T: bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ của bà C (T) cung cấp bà C (T), anh T bỏ đi biệt tích từ ngày 14/01/2006 (âm lịch) tức ngày 11/02/2006 (dương lịch) theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự thì ngày bà C (T) và anh T bỏ đi biệt tính được xác định từ ngày 11/02/2006. Vì vậy, thời điểm xác định bà C (T) và anh T đã chết là ngày 12/02/2011 (sau năm năm kể từ ngày bỏ đi biệt tích).

Hậu quả pháp lý của việc bà Lê Thị C (Lê Thị T), anh Nguyễn Đình T bị tuyên bố là đã chết: Khi Quyết định của Tòa án tuyên bố bà Lê Thị C (Lê Thị T) và anh Nguyễn Đình T đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của bà Cúc (Th) và anh T được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà C (T) và anh T được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí Tòa án: chị Nguyễn Minh T phải chịu lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Các Điều 370, 372, 391, 392, 393 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự; căn cứ các Điều 5, 6, 36 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Minh T.

- Tuyên bố: bà Lê Thị C (Lê Thị T), sinh năm 1979 và anh Nguyễn Đình T, sinh năm 2003. Nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình là đã chết.

- Thời điểm chết của bà Lê Thị C (Lê Thị T), anh Nguyễn Đình T là: Ngày 12/02/2011.

- Hậu quả pháp lý của việc bà Lê Thị C (Lê Thị T), anh Nguyễn Đình T bị tuyên bố là đã chết: Khi Quyết định của Tòa án tuyên bố bà Lê Thị C (Lê Thị T) và anh Nguyễn Đình T đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của bà C (T) và anh T được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà C (T) và anh T được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Nguyễn Minh T phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số AA/2021/0002141 ngày 25/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư.

Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc ngày quyết định được niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điểm 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ