- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Như Sơn - Nguyễn Thị Dung"
- Tòa quyết gì? Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2022/QĐST-DS | TP. Thái Bình, ngày 21 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Tuyết.
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Đặng Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2021/TLST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2022.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Nguyễn Như S, sinh năm 1952;
Nơi cư trú: Số nhà 06, phố L, tổ 4, phường T, thành phố T, tỉnh T
2. Người bị yêu cầu: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1956;
Nơi cư trú: Số nhà 06, phố L, tổ 4, phường T, thành phố T, tỉnh T.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Nguyễn Như D1, sinh năm 1975;
Nơi cư trú: N57/18D, K, phường Đ, quận H, thành phố H1.
3.2. Chị Nguyễn Thị D2, sinh năm 1980;
Nơi cư trú: Số 16A, đường V, phường L1, quận B, thành phố H2.
3.3. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Số nhà 45, ngõ 24, phố P, phường T, thành phố T, tỉnh T.
3.4. Anh Nguyễn Như K1, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: Số 06, phố L, tổ 4, phường T, thành phố T, tỉnh T.
(Tại phiên họp vắng mặt bà Nguyễn Thị D, có mặt những người tham gia tố tụng khác).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp, ông Nguyễn Như S trình bày:
Ông Nguyễn Như S và bà Nguyễn Thị D là vợ chồng từ tháng 8 năm 1974. Quá trình chung sống ông S và bà D sinh được 04 người con chung là Nguyễn Như D1, Nguyễn Thị D2, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Như K1.
Tháng 7/2016, bà Nguyễn Thị D có biểu hiện bị tê cánh tay bên trái (cầm vật gì cũng khó và không có lực đỡ). Đi khám ở các Bệnh viện Bác sĩ chỉ chẩn đoán bị tai biến nhẹ hoặc dính khớp vai cho điều trị châm cứu và xoa bóp.
Tháng 5/2017, gia đình đưa bà D đi khám ở Singapore phát hiện bà D bị bệnh ALS (Teo cơ trục vận động). Từ tháng 7/2017 đến tháng 10/2017, truyền tế bào gốc theo điều trị của bệnh viện Mount Elizabeth của Singapore. Được truyền tế bào gốc 5 lần nhưng bệnh không thuyên giảm mà có chiều hướng xấu đi, bà D phải ngồi xe lăn không đi lại được.
Tháng 12/2017, gia đình đưa bà D sang Nhật khám và được Bác sĩ kết luận bà D bị bệnh ALS (Teo cơ trục vận động).
Tháng 01/2018, gia đình đưa bà D sang Nhật điều trị tại Bệnh viện Minato-KuMita tại Tokyo, Nhật Bản.
Tháng 02/2018, gia đình đưa bà D về Việt Nam điều trị và uống thuốc theo chỉ định của Bác sĩ. Bà D không đi lại được phải ngồi xe lăn, ăn uống khó khăn (thức ăn phải xay nhuyễn) và nói không rõ.
Tháng 3/2019, gia đình đưa bà D đi nhập viện Vinmec, Hà Nội để điều trị bệnh khó thở, khó nuốt và được chỉ định mở khí quản và dạ dày.
Hiện nay, bà D bị liệt hoàn toàn tứ chi, không nhận biết được gì. Sinh hoạt hàng ngày phải có người phục vụ, đang được điều trị tại nhà, hàng ngày có Y tá, Bác sĩ đến thăm khám và chăm sóc.
Kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa tỉnh Thái Bình tại Biên bản giám định Y khoa số 12/GĐYK-K ngày 10/11/2019, bà D được xác định bị mất khả năng lao động; tỷ lệ tổn thương cơ thể là 99%.
Ông Nguyễn Như S đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình tuyên bố bà Nguyễn Thị D bị mất năng lực hành vi dân sự để ông Nguyễn Như S và gia đình giải quyết về tài sản của bà Nguyễn Thị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nhận định:
Về tố tụng: Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông Nguyễn Như S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy, ông Nguyễn Như S yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị D mất năng lực hành vi dân sự; tại Kết luận trưng cầu giám định số 02/KLGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương kết luận: “Tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Thị D bị bệnh mất trí trong bệnh xơ cứng cột bên teo cơ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F02.8. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiểu hành vi”.
Điều 22 Bộ luật Dân sự quy định:
“1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần…”.
Như vậy, có đủ căn cứ để tuyên bố bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1956; nơi cư trú: Số nhà 06, phố L, tổ 4, phường T, thành phố T, tỉnh T mất năng lực hành vi dân sự.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Như S phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu ông Nguyễn Như S, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Như D1, chị Nguyễn Thị D2, chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Như K1 có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn luật định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 22 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 361; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 36 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Điều 1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Như S, tuyên bố bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1956; nơi cư trú: Số nhà 06, phố L, tổ 4, phường T, thành phố T, tỉnh T mất năng lực hành vi dân sự.
Điều 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Như S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Chuyển số tiền 300.000 đồng ông S đã nộp tạm ứng lệ phí tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000236 ngày 30/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thành lệ phí.
Điều 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND TP. Thái Bình; - Chi cục THADS TP. Thái Bình; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Chu Thị Tuyết |