- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Trần Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH THUẬN Số: 01/2022/QĐST-DS | Đức Linh, ngày 06 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Mỹ Dung.
Thư ký phiên họp: Bà Mai Thảo Chi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 212/2021/TLST-DS, ngày 08 tháng 11 năm 2021; về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 185/2021/QĐST-VDS, ngày 31 tháng 12 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Thường trú: Số M, đường số B, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1950; Thường trú: Số H, đường số M, tổ H, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
2. Bà Trần Thị R, sinh năm 1955; Thường trú: Số H1, đường số C, tổ B, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
3. Bà Trần Thị Y, sinh năm 1966; Thường trú: Số M, đường số M1, tổ M, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên họp: Bà T, bà L, bà R, bà Y có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, người yêu cầu bà Trần Thị T trình bày:
Cha của bà là ông Trần Cao M (đã chết năm 1995) và mẹ là bà Nguyễn Thị C (đã chết năm 2014), có với nhau 05 người con, gồm: bà Trần Thị L, sinh năm 1950; bà Trần Thị R, sinh năm 1955; bà Trần Thị Y, sinh năm 1966; bà Trần Thị X, sinh năm 1969, Trần Thị T, sinh năm 1971. Ngoài ra cha mẹ của bà không có con riêng hay con nuôi nào khác. Bà X ở chung với cha mẹ, cho đến khi cha mẹ mất thì bà X ở 01 mình tại địa chỉ tổ S, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Từ khi còn nhỏ, bà X bị thiểu năng trí tuệ, chậm phát triển, trí nhớ kém, lúc đi học không nhận biết và không học hỏi được gì nên cha mẹ cho ở nhà, bà X không nhận biết được tiền bạc nên không biết sử dụng tiền, có lúc cười lớn 01 mình, lúc nào thích tắm rửa, ăn uống thì làm, lúc nào không thích thì không tắm, không ăn. Bà X không chịu ở chung với ai trong mấy chị em nên các chị em trong nhà thường mua đồ ăn mang đến nhà cho bà. Bà X được nhận trợ cấp xã hội từ năm 2015 đến nay. Ngoài ra, bà có giấy xác nhận khuyết tật của Ủy ban nhân dân xã N ngày 27/10/2021 trong đó ghi bà X bị khuyết tật trí tuệ dạng nặng. Từ trước đến nay, bà X không có chồng. Vì vậy, bà Trần Thị T nộp đơn tại Tòa án yêu cầu giải quyết tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Trần Thị X, đồng thời yêu cầu Tòa án cử bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Thường trú: Số M, đường số B, tổ C, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận là người giám hộ của bà Trần Thị X.
Ngày 05/01/2022, bà Trần Thị T có đơn rút phần yêu cầu Tòa án cử bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Thường trú: Số M, đường số B, tổ C, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận là người giám hộ của bà Trần Thị X.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L, bà Trần Thị R, bà Trần Thị Y có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nhưng tại biên bản lấy lời khai đã trình bày thống nhất với phần trình bày của bà Trần Thị T và đồng ý với yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị X là người mất năng lực hành vi dân sự. Thống nhất cử bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Thường trú: Số M, đường số B, tổ C, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận là người giám hộ của bà Trần Thị X.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận:
+ Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Thư ký phiên họp: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên họp Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng quy định về việc mở phiên họp.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý việc dân sự, đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và những quy định khác của pháp luật. Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt họ là đúng quy định.
+ Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
Về quan hệ pháp luật: Tòa án xác định việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” là phù hợp theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 621/KL-VPYTW ngày 10/12/2021 của Viện pháp ý tâm thần trung ương Biên Hòa, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị T về việc tuyên bố bà Trần Thị X, sinh năm 1969; nơi cư trú: tổ S, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận là người mất năng lực hành vi dân sự. Đối với yêu cầu cử bà Trần Thị T là người giám hộ cho bà X, vì bà T đã có đơn rút yêu cầu nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Theo yêu cầu và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, bà X không có chồng, cha là ông Trần Cao M và mẹ là bà Nguyễn Thị C đã chết. Bà Trần Thị T là em gái ruột của bà Trần Thị X. Vì vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015, có đủ cơ sở kết luận bà Trần Thị T là người có quyền yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị X là người mất năng lực hành vi dân sự.
Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt họ.
Về yêu cầu của đương sự: Ông Trần Cao M (đã chết, theo trích lục khai tử số 871/TLKT-BS ngày 28/10/2021) và bà Nguyễn Thị C (đã chết năm 2014, theo Giấy chứng tử số 8/2014, quyển số 01/2012 ngày 11/02/2014), có với nhau 05 người con, gồm: bà Trần Thị L, sinh năm 1950; bà Trần Thị R, sinh năm 1955; bà Trần Thị Y, sinh năm 1966; bà Trần Thị X, sinh năm 1969; Trần Thị T, sinh năm 1971. Ngoài ra ông bà không có con riêng hay con nuôi nào khác. Bà X ở chung với cha mẹ, cho đến khi cha mẹ mất thì bà X ở 01 mình tại địa chỉ tổ S, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Từ khi còn nhỏ, bà X bị thiểu năng trí tuệ, chậm phát triển, trí nhớ kém, lúc đi học không nhận biết và không học hỏi được gì nên cha mẹ cho ở nhà, bà X không nhận biết được tiền bạc nên không biết sử dụng tiền, có lúc cười lớn 01 mình, lúc nào thích tắm rửa, ăn uống thì làm, lúc nào không thích thì không tắm, không ăn. Bà X không chịu ở chung với ai trong mấy chị em nên các chị em trong nhà thường mua đồ ăn mang đến nhà cho bà. Bà X được nhận trợ cấp xã hội từ năm 2015 đến nay. Ngoài ra, bà có giấy xác nhận khuyết tật của Ủy ban nhân dân xã N ngày 27/10/2021 trong đó ghi bà X bị khuyết tật trí tuệ dạng nặng. Từ trước đến nay, bà X không có chồng. Vì vậy, bà Trần Thị T nộp đơn tại Tòa án yêu cầu giải quyết tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Trần Thị X, đồng thời yêu cầu Tòa án cử bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Thường trú: Số M, đường số B, tổ C, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận là người giám hộ của bà Trần Thị X.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L, bà Trần Thị R, bà Trần Thị Y đều đồng ý với việc bà Trần Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị X là người mất năng lực hành vi dân sự; đồng ý cử bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Thường trú: Số M, đường số B, tổ C, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận là người giám hộ của bà Trần Thị X.
Theo đơn đề nghị giám định tâm thần của bà Trần Thị T, ngày 23/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 15/QĐ-TA đối với tình trạng tâm thần và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của bà Trần Thị X, sinh năm 1969; nơi cư trú: tổ S, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận gửi Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa. Theo đó, Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa có Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 621/KL-VPYTW ngày 10/12/2021, kết luận:
- Về y học: Hiện nay: Đương sự bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ (F70-ICD.10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (cần người giám hộ).
Căn cứ vào Bản kết luận này, có đủ cơ sở để xác định bà Trần Thị X là người bị mất năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, yêu cầu của bà Trần Thị T là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với yêu cầu Tòa án cử bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Thường trú: Số M, đường số B, tổ C, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận là người giám hộ của bà Trần Thị X, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất. Tuy nhiên, ngày 05/01/2022, bà T đã có đơn rút yêu cầu này. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 54 Bộ luật dân sự năm 2015, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ. Chỉ trong trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ. Như vậy, trong trường hợp này, Tòa án không cử người giám hộ. Việc bà T rút yêu cầu là phù hợp nên Tòa án chấp nhận và đình chỉ theo quy định.
Đề nghi của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh là có cơ sở chấp nhận.
Về lệ phí DSST: Bà Trần Thị T phải chịu lệ phí việc dân sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 27, Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điểm c Khoản 2 Điều 366, Điều 371, Điều 376 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 22, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị T.
Tuyên bố bà Trần Thị X, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ S, thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, là người mất năng lực hành vi dân sự.
2. Đình chỉ yêu cầu cử bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Thường trú: Số M, đường số B, tổ C, thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận là người giám hộ cho bà Trần Thị X.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị T phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí do bà T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005654, ngày 08 tháng 11 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Bà T đã nộp đủ lệ phí.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án tuyên quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Đức Linh; - CCTHADS huyện Đức Linh; - TAND tỉnh Bình Thuận; - UBND xã N; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM HÁN – CHỦ TỌA HI N HỌP (đã ký) han Thị Mỹ Dung |