vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 24/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn N.

Tuyên bố ông Trần Văn V - sinh năm 1960, trú tại: Đội 2, thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa là người mất năng lực hành vi dân sự. Bà Trần Thị N là người giám đương nhiên hộ cho ông Trần Văn V; trường hợp người giám hộ không đồng ý thực hiện quyền giám hộ thì các đương sự có quyền đến Ủy ban nhân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông Trần Văn N, sinh năm 1966; Địa chỉ: Đội 2, thôn V, xã C, huyện C, Khánh Hòa "Yêu cầu tuyên bố một người một người mất năng lực h…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LÂM
TỈNH KHÁNH HÒA
Số: 01/2022/QĐST-DS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Cam Lâm, ngày 24 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Văn Phi

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên họp: Bà Trương Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2022/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2022/QĐST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyêt việc dân sự: Ông Trần Văn N, sinh năm 1966; Địa chỉ: Đội 2, thôn V, xã C, huyện C, Khánh Hòa. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1953; Địa chỉ: đội 2, thôn V, xã C, huyện C, Khánh Hòa (có mặt)

* Người bị yêu cầu giải quyết tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: Ông Trần Văn V - sinh năm 1960; địa chỉ: Đội 2, thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 14 tháng 12 năm 2021, trong quá trình giải quyết và tại phiên họp, ông Trần Văn N trình bày:

Ông Trần Văn N có 01 chị ruột là Nguyễn Thị N1, sinh năm 1952; 01 người anh ruột là Trần Văn V, năm 1960. Từ nhỏ ông V đã có biểu hiện không nhận thức được như những người bình thường, lúc nào cũng phải có người trông nom, chăm sóc. Nay cha mẹ của ông N đã qua đời, ông N yêu cầu Toà án tuyên bố ông Trần Văn V bị mất năng lực hành vi dân sự. Hiện ông V đang ở cùng chị là bà Trần Thị N1 nên đề nghị bà N1 làm người giám hộ cho ông V.

- Tại bản tự khai ngày 28/4/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1 trình bày: Bà N1 có 02 người em trai là Trần Văn N và Trần Văn V. Từ nhỏ ông V đã có biểu hiện không bình thường. Ông V không thể học hành, không làm được được việc gì, sống hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình.

Này ông N yêu cầu Toà án tuyên bố ông Trần Văn V mất năng lực hành vi dân sự bà đồng ý; bà N1 cũng đồng ý làm người hộ cho ông N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm phát biểu ý kiến:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, thư ký và đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015 và kết luận giám định pháp y tinh thần, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn N, tuyên bố ông Trần Văn V mất năng lực hành vi dân sự; việc chỉ định người giám hộ được thực hiện theo quy định tại các Điều 53, 54, 57, 58, 59 của Bộ luật dân sự năm 2015

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm nhận định:

Về tố tụng:

- Ông Trần Văn N yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn V - sinh năm 1960, trú tại: Đôi 2, thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa mất năng lực hành vi dân sự; đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ việc:

Ông Trần Văn V, sinh năm 1960 hiện đang sống cùng bà Trần Thị N1 (chị ruột của ông V), cha mẹ ông V đã chết. Từ nhỏ Trần Văn V có biểu hiện không bình thường, hiện tại ông V không nói được, không tự chăm sóc cho mình được mà phải có người giúp đỡ. Ông V không thể học hành, không đi lại được chỉ nằm một chỗ.

Ngày 27/5/2013, ông Trần Văn V được Uỷ ban nhân dân xã C cấp Giấy xác nhận khuyết tật (số hiệu: 56/22471/0053), dạng khuyết tật: thần kinh – tâm thần; mức độ đặc biệt nặng và hiện đang hưởng trợ cấp xã hội tháng tháng theo quy định.

Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã trưng cầu giám định sức khỏe, bệnh tật và pháp y tâm thần đối với ông Trần Văn V tại Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 589/KLGĐTC ngày 13 tháng 5 năm 2022 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung đã kết luận thời điểm hiện tại đối với ông Trần Văn V:

Về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ trầm trọng (F73)

Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tinh thần, ông Trần Văn N yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn V mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015 là có căn cứ nên chấp nhận.

Về chỉ định người giám hộ: Bà Trần Thị N1 và ông Trần Văn N thống nhất để bà N1 là người giám hộ cho ông Trần Văn V là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 53 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn N đã nộp đủ chi phí giám định pháp y tinh thần theo quy định nên không buộc ông N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ này.

Về lệ phí: Ông Trần Văn N chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 367, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 22, 53, 54, 57, 58, 59 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1/ Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn N.

Tuyên bố ông Trần Văn V - sinh năm 1960, trú tại: Đội 2, thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa là người mất năng lực hành vi dân sự.

Bà Trần Thị N là người giám đương nhiên hộ cho ông Trần Văn V; trường hợp người giám hộ không đồng ý thực hiện quyền giám hộ thì các đương sự có quyền đến Ủy ban nhân dân xã C (nơi đăng ký thường trú của ông Trần Văn V) để yêu cầu cử người giám hộ; quyền, nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ thực hiện theo quy định tại Điều 57, 58, 59 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về lệ phí sơ thẩm: Ông Trần Văn N phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0009118 ngày 25/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm; ông N đã nộp đủ lệ phí.

3/ Về kháng cáo, kháng nghị: Ông Trần Văn N, bà Trần Thị N1 có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ