- Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông S, bà N - anh S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Huy S và bà Vũ Thị N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 25 Luật Nuôi con nuôi; Điều 26 Luật Nuôi con nuôi
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2022/QĐST-DS Ngày 24-01-2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
v/v: “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Trường Nam.
Thư ký phiên họp: Bà Bùi Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST-VDS ngày 04-01-2022 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”; theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2022/QĐST-VDS, ngày 10-01-2022; gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Vũ Huy S, sinh năm 1959 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1962; đều có địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Huy S, sinh ngày 21-01-2000; Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1972 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1959; đều có địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định.
(Tại phiên họp: Có mặt bà N, anh S, ông H và bà H. Ông S vắng mặt, nhưng ông S có đơn ủy quyền cho bà N).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi ngày 04-01-2022; bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu bà Vũ Thị N và ông Vũ Huy S trình bày:
Khoảng năm 2010, gia đình bà Vũ Thị H và ông Nguyễn Ngọc H có một người con trai là Nguyễn Ngọc S, do khi còn bé cháu hay ốm đau nên ông H và bà H có nguyện vọng nhờ gia đình ông bà nhận cháu S làm con nuôi để cải thiện sức khỏe cho cháu S và nuôi cháu thành người. Sau khi bàn bạc thống nhất hai bên đồng ý và cùng đến Ủy ban nhân dân xã Đ để làm thủ tục nhận con nuôi là cháu Nguyễn Ngọc S.
Ngày 22-9-2010 vợ chồng ông bà đã có đơn xin nhận nuôi con, đến ngày 13-10-2010 thì Ủy ban nhân dân xã Đ đã ra Quyết định số 36 về việc công nhận việc nhận nuôi con nuôi, đồng thời Ủy ban nhân dân xã Đ đã ra quyết định số 37 về việc cho phép thay đổi họ tên của cháu S từ Nguyễn Ngọc S thành Vũ Huy S. Kể từ đó cho đến nay, ông bà chính thức là bố mẹ nuôi của cháu S. Cháu S được hưởng các chế độ xã hội, trợ cấp xã hội hàng tháng và các chế độ khác của Nhà nước đối với con thương binh của ông S. Ngoài ra, cháu S không được hưởng thừa kế đất đai, tài chính kinh tế liên quan đến tài sản của gia đình ông bà.
Đến nay, cháu S đã trưởng thành, có đầy đủ hành vi năng lực dân sự, có khả năng lao động tự lập được, ông bà đã thấy an tâm về sức khỏe của cháu S; nên ông bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện V chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông bà với cháu Vũ Huy S. Ông bà không yêu cầu cháu S phải báo đáp kinh tế gì cho ông bà.
Tại bản khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Huy S trình bầy: Khi anh còn bé bố đẻ là ông Nguyễn Ngọc H, mẹ đẻ bà Vũ Thị H làm thủ tục cho anh là con nuôi bà Vũ Thị N và ông Vũ Huy S. Nay bố mẹ nuôi là ông S, bà N đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi vì lý do tuổi già, sức yếu khó khăn về kinh tế; anh đồng ý vì bản thân anh đã trưởng thành và khi chấm dứt việc nuôi con nuôi, anh không yêu cầu bố mẹ nuôi bất cứ vấn đề gì.
Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc H và bà Vũ Thị H trình bày: Cháu Vũ Huy S là con đẻ của chúng tôi, khi còn bé cháu hay đau yếu và chúng tôi bận công việc nên đã làm thủ tục cho cháu S làm con nuôi ông S, bà N. Nay ông S, bà N và cháu S yêu cầu Tòa chấm dứt việc nuôi con nuôi, chúng tôi đồng ý.
Tại phiên họp các đương sự đều đồng nhất quan điểm yêu cầu Tòa chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông S, bà N và cháu S.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 25; khoản 1 Điều 26; khoản 1 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Vũ Huy S và bà Vũ Thị N.
Chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Vũ Huy S và bà Vũ Thị N đối với con nuôi là anh Vũ Huy S.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông S là thương binh ¾ và là người cao tuổi nên được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự. Bà N phải nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện V nhận định:
. Ông Vũ Huy S, bà Vũ Thị N và anh Vũ Huy S đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định. Ngày 13-10-2010 Ủy ban nhân dân xã Đ công nhận việc nhận nuôi con nuôi giữa ông S, bà N và anh S. Đến nay anh S đã thành niên, có khả năng lao động tự lập được nên ông S, bà N yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh S. Căn cứ khoản 5 Điều 29 Bộ luật Tố tụng Dân sự được xem xét.
. Theo những tài liệu chứng cứ do người yêu cầu là ông S, bà N cung cấp thì việc nhận anh S làm con nuôi của ông S, bà N là hoàn toàn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định ra quyết định. Như vậy quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi của ông S, bà N với anh S là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Nay anh S đã thành niên; ông S, bà N và anh S đồng nhất quan điểm yêu cầu Tòa chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông S, bà N với anh S.
Do đó việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông S, bà N với anh S là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật, phù hợp với ý trí và nguyện vọng của các bên; vì vậy được chấp nhận.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông S là thương binh ¾ và là người cao tuổi nên được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự. Bà N phải nộp theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 25; khoản 1 Điều 26; khoản 1 Điều 27 của Luật Nuôi con nuôi. Điều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Huy S và bà Vũ Thị N.
Chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Vũ Huy S và bà Vũ Thị N đối với con nuôi là anh Vũ Huy S.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Huy S được miễn. Bà Vũ Thị N phải nộp 300.000đ. Số tiền 300.000đ bà N đã nộp tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001393 ngày 04-01-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V được đối trừ. (Bà Vũ Thị N đã nộp đủ lệ phí).
3. Ông Vũ Huy S, bà Vũ Thị N và anh Vũ Huy S có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 (Mười) ngày, kể từ ngày 24 tháng 01 năm 2022.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện V; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Đ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Trường Nam |