- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hà T. Tên gọi khác Nguyễn Thị B
- Căn cứ chính? Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2022/QĐDS-ST Ngày 29-4-2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đình Lâm
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên họp: Bà Đỗ Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2022,tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự sơ thẩm thụ lý số 04/2021/TLST- VDS, ngày 26 tháng 7 năm 2022 về việc: "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩmgiải quyết việc dân sự số: 01/2022/QĐST-VDS ngày 20 tháng 4 năm 2022.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hà T. Tên gọi khác: Nguyễn Thị B, sinh năm 1990. Có mặt
Địa chỉ: Thôn Y, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái
- Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1972
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Y, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 23/7/2021 và trong quá trình tố tụng chị Nguyễn Thị Hà T (Nguyễn Thị B) trình bày:
Bà Vũ Thị T1 sinh được 02 người con là chị Nguyễn Thị Hà T (Nguyễn Thị B) và chị Nguyễn Thị T2 nhưng bà T1 chưa đăng ký kết hôn với ai và cũng chưa chung sống cùng ai như vợ chồng. Đến năm 1994 bà T1 bỏ nhà đi khỏi địa phương không để lại địa chỉ và gia đình không có tin tức gì về bà T1. Khi bỏ nhà đi gia đình chị đã tìm kiếm bà T1 ở nhiều nơi nhưng đều không có kết quả, không ai biết được tin tức bà T1 còn sống hay đã chết và từ năm 1994 đến nay bà T1 cũng không có lần nào trở về địa phương để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chị Nguyễn Thị Hà T (Nguyễn Thị B) đề nghị Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị T1 là người đã chết.
Tại bản tự khai ngày 29 tháng 7 năm 2021 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2 thừa nhận lời khai của chị T là đúng. Chị T2 đồng ý với yêu cầu của chị T và không có ý kiến nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái p hát biểu ý kiến khảng định:
Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ việc và tại p hiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã đảm bảo việc tuân theo p háp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự và người yêu cầu chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết yêu cầu của người yêu cầu: Bà Vũ Thị T1 đã biệt tích từ năm 1994 đến nay, đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà T1 còn sống hay đã chết nên đề nghị Tòa án căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71Bộ luật dân sự tuyên bố bà Vũ Thị T1 là người đã chết; Về lệ phí Tòa án: Người yêu cầu chị Nguyễn Thị Hà T (Nguyễn Thị B) phải nộp lệ p hí Tòa án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện của Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết bà Vũ Thị T1 có nơi cư trú cuối cùng tại Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. thì thẩm quyền giải quyết vụ việc của Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
[2] Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hà T. Tên gọi khác: Nguyễn Thị B là người có đơn yêu cầu tuyên bố bà Vũ Thị T1 là đã chết nên chị T được xác định là người yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị T2 có quan hệ là chị em ruột với chị T đều do bà Vũ Thị T1 sinh ra nên xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Chị Nguyễn Thị T2 có đơn xin vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành mở p hiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hà T (Nguyễn Thị B): Bà Vũ Thị T1 là mẹ ruột của chị T đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái từ năm 1994. Sau khi thụ lý vụ việc Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm bà Vũ Thị T1 theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự; quá thời hạn thông báo của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức xác thực là bà Vũ Thị T1 còn sống hay đã chết. Bà Vũ Thị T1 đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống vì vậy yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hà T (Nguyễn Thị B) về việc tuyên bố bà Vũ Thị T1 đã chết là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự.
[4] Về thời điểm chết của bà Vũ Thị T1: Bà Vũ Thị T1 bỏ đi từ năm 1994 (không rõ ngày tháng cụ thể) nên theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, ngày bà T1 bỏ đi biệt tích được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 1995. Vì vậy, thời điểm xác định bà Vũ Thị T1 đã chết là ngày 02 tháng 01 năm 2000 (sau 05 năm k ể từ ngày bỏ đi biệt tích).
[5] Về hậu quả pháp lý của việc bà Vũ Thị T1 bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị T1 đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân,gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của bà T1 được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
[6] Về lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị Hà T (Nguyễn Thị B) p hải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 367; các Điều 369, 370, 371, 372,391; khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 392; Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 68;điểmd khoản 1 Điều 71; Điều 72 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 6, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hà T. Tên gọi khác Nguyễn Thị B
Tuyên bố bà Vũ Thị T1 sinh năm 1972. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Khe Trang, xã An Bình, huyện Văn Yên,tỉnh Yên Bái là người đã chết. Thời điểmchết của bà Vũ Thị T1 được xác định là ngày ngày 02 tháng 01 năm 2000.
Kể từ ngày quyết định của Toà án tuyên bố bà Vũ Thị T1 đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân,gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của bà T1 được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Vũ Thị T1 được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hà T (Nguyễn Thị B) phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị T đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số AA/2017/0005621, ngày 23/7/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Chị Nguyễn Thị Hà T (Nguyễn Thị B) đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - Viện KSND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Văn Yên; - Chi cục THADS huyện Văn Yên; - Người yêu cầu; Người có QL&NVLQ; - UBND xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; - Lưu HS, KT, tập QĐ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Đình Lâm |