- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn K"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh D (Địa chỉ: thành phố Chí Linh, tỉnh D) đối với Lương Văn K.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M TỈNH D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2022/QĐ-TA | M, ngày 10 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M, TỈNH D
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán:
Ông Trần Văn Khánh
2. Thư ký phiên họp:
Bà Trương Thị Hiền Lương
Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã M tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 01/2022/QĐ-PH ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với:
Họ và tên: Lương Văn K, sinh ngày 03/5/1995; Giới tính: Nam;
Số chứng minh thư nhân dân: 142750853
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12.
Nơi ĐKHK: KDC U, phường X, thị xã M, tỉnh D
Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định;
Nghề nghiệp: Không.
Con ông Lương Văn T, sinh năm 1973 và bà Vũ Thị D1, sinh năm 1977
Tiền án, tiền sự: Không. Vắng mặt
Nhân thân:
Ngày 18 tháng 9 năm 2020, K cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh D theo Quyết định số 1472/QĐ-CSCNMT của Giám đốc Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh D.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Phó phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã M, tỉnh D. Có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát thị xã M: Bà Nguyễn Thị Nhung – Kiểm sát viên. Có mặt
NHẬN THẤY:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Lương Văn K, có hành vi vi phạm như sau:
Vào hồi 19 giờ 00 phút, ngày 17/10/2021, tại khu vực bờ đê thuộc KDC U, phường X, thị xã M, tỉnh D, Lương Văn K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá bằng hình hít. Khi K vừa sử dụng xong, thì bị lực lượng Công an phường X phát hiện. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của K đã bị Công an phường X lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại biên bản làm việc, bản tường trình: Lương Văn K thừa nhận vào khoảng 19 giờ ngày 17/10/2021, tại khu vực bờ đê thuộc KDC U, phường X, thị xã M, tỉnh D, K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá, sau khi sử dụng ma túy, K bị Công an phường X phát hiện, lập biên bản vụ việc, lập biên bản xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại biên bản xác minh của Công an phường X, thị xã M xác định: Lương Văn K là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2018, thường xuyên lang thang không nghề nghiệp và không có nơi cư trú ổn định.
Ngày 18 tháng 10 năm 2021, Ủy ban nhân dân phường X có văn bản đề nghị Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh D, xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lương Văn K. Kết quả xét nghiệm, xác định tình trạng nghiện người nghiện ma túy, xác định anh Lương Văn K có nghiện ma túy tổng hợp (Amphetamin).
Ngày 23 tháng 10 năm 2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường X ra Quyết định số 73/QĐ-UBND giao Lương Văn K cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh D quản lý, cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại công văn số 362/LĐTBXH ngày 29/12/2021, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã M đề nghị Tòa án nhân dân thị xã M xem xét quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lương Văn K với thời gian là 18 tháng.
*Tại phiên họp hôm nay:
- Đại diện Phòng lao động - thương binh và xã hội thị xã M giữ nguyên đề nghị theo công văn số 362/LĐTBXH ngày 29/12/2021.
- Anh Lương Văn K vắng mặt tại phiên họp và đã có đơn đề nghị Tòa án thị xã M mở phiên họp vắng mặt đối với anh K.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân nhân dân thị xã M: Tòa án nhân dân thị xã M đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, từ ý kiến nêu trên, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã M chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã M, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn K từ 18 đến 21 tháng.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã M, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, thì thấy:
- Về trình tự, thẩm quyền xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Phòng lao động thương binh và xã hội thị xã M là cơ quan đề nghị xem xét áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì thẩm quyền xem xét, áp dụng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh D.
Người bị đề nghị anh Lương Văn K vắng mặt tại phiên họp và có đơn đề nghị về việc vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Tòa án tiến hành mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn K phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về tính hợp pháp của hồ sơ: Về đối tượng bị đề nghị, thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính và tài liệu có trong hồ sơ về cơ bản thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020); Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020) về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, phù hợp điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020); khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Về mẫu ban hành văn bản mặc dù hành vi vi phạm vào thời điểm Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực, song một số mẫu văn bản thực hiện theo Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020) về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, tuy nhiên về hình thức chưa đảm bảo tại Nghị định nêu trên.
- Về hành vi vi phạm: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cũng như lời thừa nhận của Lương Văn K tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai, có đủ cơ sở xác định: vào hồi 19 giờ 00 phút, ngày 17/10/2021, Lương Văn K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá bằng hình thức hít, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của K đã bị lập biên bản vi phạm hành chính, hiện tại K không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lương Văn K đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma tuý, gây nguy hại cho sức khoẻ, thể chất tinh thần của người sử dụng ma tuý, làm ảnh hưởng đến gia đình, người thân và cộng đồng, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác.Tài liệu chứng cứ đã thu thập, thể hiện Lương Văn K nghiện ma túy từ năm 2018, bản thân K mới hoàn thành thời gian cai nghiện tự nguyện vào ngày 16 tháng 9 năm 2021, trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy, K tiếp tục sống lang thang, không có nơi cư trú ổn định và tiếp tục tái nghiện thể hiện thời gian cai nghiện tự nguyện của K vẫn chưa có hiệu quả. Do vậy, Phòng Lao động - thương binh và xã hội thị xã M đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn K là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96, điểm b Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020) và khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết, Lương Văn K thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020) để xem xét khi áp dụng thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với K.
+ Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tang vật, phương tiện vi phạm hành chính: Đã thực hiện truy tìm tang vật, công cụ sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không phát hiện được.
Từ những căn cứ nêu trên, chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã M về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn K.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96, điểm b Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020) và khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; khoản 2 Điều 105; Điều 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính 2020; Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh D (Địa chỉ: thành phố Chí Linh, tỉnh D) đối với Lương Văn K.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh D ngày 18/10/2021(theo biên bản bàn giao giữa Công an phường X với Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh D).
3. Lương Văn K có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã M có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã M có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã M phối hợp với Công thị xã M, tỉnh D đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân thị xã M; - Phòng Lao động TBXH thị xã M; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh D; - UBND phường X, thị xã M; - Công an thị xã M; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Trần Văn Khánh |