vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐ-CVA — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TX. Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 14/03/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điêu 1: Chuyển hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2020/TLST-DS, ngày 24 tháng 11 năm 2020, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

VKSND huyện H; Các đương sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Điêu 1: Chuyển hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2020/TLST-DS, ngày 24 tháng 11 năm 2020, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 104/2015/QH13 Thi hành Luật tố tụng hành chính; Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG SƠN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2022/QĐ-CVAHương Sơn, ngày 14 tháng 3 năm 2022.

QUYẾT ĐỊNH CHUYỂN VỤ ÁN

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 34, Điều 41 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 4 Điều 32 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính;

- Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2020/TLST- DS, ngày 24 tháng 11 năm 2020 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Cù Đình D, sinh năm: 1930. Địa chỉ: Thôn 4, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Người đại diện theo ủy quyền:

+ Chị Cù Thị Mỹ H, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Số nhà 02, ngõ 20, đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.

+ Ông Cù Ngọc S, sinh năm: 1957. Địa chỉ: Số 106, đường N, B, xã , thành phố B, tỉnh Đắc Lăk.

- Bị đơn: + Ông Phạm Quang T, sinh năm: 1955; Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1973. Đều ở địa chỉ: Thôn 4, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

+ Ông Trần Thanh T1, sinh năm: 1959. Địa chỉ: Thôn 2, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

+ Ông Trần Thanh S1, sinh năm: 1954. Địa chỉ: Thôn 2, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Cù Ngọc S, sinh năm: 1957. Địa chỉ: Số 106, đường N, B, xã E, thành phố B, tỉnh Đắc Lăk.

- Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Quang T - Chức vụ: Chủ tịch.

- Người đại D theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng S2 – Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường - Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện H, Đ. Địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn H - Chức vụ: Giám đốc.

- Ủy ban nhân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ: Xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo pháp luật ông Phạm Bình L - Chức vụ: Chủ tịch.

- Người đại D theo ủy quyền: Ông Phan Anh H – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Xét thấy: Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập được có căn cứ hủy các quyết định hành chính cá biệt theo quy định của pháp luật với các ly do:

- Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cù Đình D không đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Năm 1993 ông Lê Thanh T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Cù Ngọc S nhưng đến ngày 28/11/1998 Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cù Đình D theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 475274.

Tại biên bản lấy lời khai đối với ông Cù Ngọc S được lập ngày 19/01/2022 thể hiện nguồn gốc thửa đất dô ông Cù Ngọc S nhận chuyển nhượng từ ông Lê Thanh T, từ thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến nay ông S không thực hiện việc chuyển nhượng hay tặng cho người nào khác đối với thửa đất này nhưng đến năm 1998 Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cù Đình D theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 475274 là không đúng quy định của pháp luật.

Ngày 03/12/2021 các bị đơn ông Trần Thanh T1, ông Trần Thanh S, ông Phạm Quang T, bà Nguyễn Thị N có đơn phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn, tại đơn phản tố ông T1, ông Sơn, ông T, bà N đều cho rằng thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Cù Đình D theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 475274 là không đảm bảo theo quy định của pháp luật vì vào năm 1993 ông Lê Thanh T chuyển nhưởng quyền sử dụng đất cho ông Cù Ngọc S nhưng năm 1998 Ủy ban nhân dân huyện H lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Cù Đình D.

Tại đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện người đại D theo ủy quyền của của nguyên đơn chị Cù Thị Mỹ H trình bày vào ngày 08/02/2007 Ủy ban nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Quang T, bà Nguyễn Thị N theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 021297 là không đảm bảo theo quy định của pháp luật vì thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà N thì không thực hiện việc giao đất tại thực địa và không có các hộ liền kề xác định mốc giới, ranh giới đối với thửa đất.

Tại các bản tự khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện H, Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh H – Đ, Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đều thể hiện nguồn gốc thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 457274 mang tên Cù Đình D là do ông D nhận chuyển nhượng từ ông Lê Thanh T, hiện nay hồ sơ lưu trữ đối với các thửa đất này không đầy đủ nên không có căn cứ để xác định.

Thẩm quyền xem xét hủy các quyết định hành chính có liên quan thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH

Điêu 1: Chuyển hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2020/TLST-DS, ngày 24 tháng 11 năm 2020, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Điều 2: Tòa án nhân dân huyện H xóa tên trong sổ thụ lý. Các đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định này.

Cỡ chữ