vanban.org

Quyết định 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 14/01/2022 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Huỳnh Thanh G; Sửa Bản án sơ thẩm số: 50/2021/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phước N, sinh ngày 05/8/2017 cho anh Nguyễn Huỳnh Thanh G trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Huỳnh Thanh G; Sửa Bản án sơ thẩm số: 50/2021/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 14 - 01 - 2022
V/v tranh chấp ly hôn, ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tư

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Tân

Ông Nguyễn Hữu Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Ni – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Lữ Thị Tuyết Lan – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2021/TLPT – HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 50/2021/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm: 36/2021/QĐ-PT ngày 07 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Huỳnh Thanh G, sinh năm 1990 ( Có mặt).

Địa chỉ: Ấp X, xã Y, huyện Z1, tỉnh Vĩnh Long.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có bà Dương Thùy Tr – Luật sư Văn phòng luật sư Dương Vĩnh Phú thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991 ( Có mặt). Địa chỉ: Ấp X2, xã Y2, huyện Z, tỉnh Vĩnh Long.

Do có kháng cáo của: Anh Nguyễn Huỳnh Thanh G – Là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/4/2021, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Huỳnh Thanh G trình bày:

Thông qua mai mối, anh G và chị T tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện Z1, tỉnh Vĩnh Long; theo giấy chứng nhận kết hôn số 27, ngày 16/5/2016. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Phước N, sinh ngày 05/8/2017 hiện đang sống chung với chị T.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến đầu năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, nên đã ly thân từ tháng 4/2021 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên anh G yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh G yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

- Về con chung: Anh G yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước N, sinh ngày 05/8/2017, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T xác định chị và anh G chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Z1, tỉnh Vĩnh Long, vợ chồng chung sống cũng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2021 cho đến nay. Nay anh G yêu cầu ly hôn với chị, chị cũng đồng ý ly hôn với anh G.

- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Phước N, sinh ngày 05/8/2017, hiện cháu N do chị T nuôi dưỡng, cháu N vẫn phát triển tốt về mọi mặt. Nay chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 50/2021/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định như sau:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho nguyên đơn anh Nguyễn Huỳnh Thanh G được ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị T.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Phước N, sinh ngày 05/8/2017 cho bị đơn Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.

4. Về quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Ngày 28/10/2021 nguyên đơn Nguyễn Huỳnh Thanh G kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Phước N, sinh ngày 05/8/2017, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Luật sư Dương Thùy Tr trình bày: Anh G có điều kiện và thời gian chăm sóc con chung Nguyễn Phước N tốt hơn nên đề nghị xem xét giao con chung cho anh G nuôi dưỡng.

Nguyên đơn Nguyễn Huỳnh Thanh G yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn Nguyễn Thị T không đồng ý giao cháu N cho anh G nuôi dưỡng, đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Vị Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp việc kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Huỳnh Thanh G; về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm; Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Huỳnh Thanh G; Giữ nguyên án sơ thẩm; Anh G phải nộp án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 28/10/2021 nguyên đơn Nguyễn Huỳnh Thanh G kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định. Nên đơn kháng cáo của anh G được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét kháng cáo của anh G yêu cầu nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phước N, sinh ngày 05/8/2017, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc cha mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn vừa là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khi giải quyết ly hôn, các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc nuôi con hoặc Tòa án xử giao con cho ai là người trực tiếp nuôi con phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng người và phải quan tâm đến quyền lợi và lợi ích mọi mặt của đứa trẻ. Anh G và chị T có đủ điều kiện nuôi con tốt.

Xét thấy, trước đây con chung Nguyễn Phước N do anh G, chị T cùng chung nuôi dưỡng, anh G, chị T đi làm cháu N do mẹ anh G trực tiếp chăm sóc. Đến tháng 4 năm 2021 chị T và anh G xảy ra mâu thuẩn chị T dẫn cháu N về ở nhờ nhà cha mẹ chị. Điều kiện hiện tại chị T không có nơi ở ổn định phải ở nhờ nhà cha mẹ, chị T làm công ty nên ít có thời gian chăm sóc cháu N, hiện tại cháu N có hộ khẩu tại gia đình của anh G. Do đó, để tạo điều kiện cháu N có nơi ở ổn định để đi học nên giao con chung Nguyễn Phước N, sinh ngày 05/8/2017 cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh G; Sửa án sơ thẩm.

Xét thấy đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Huỳnh Thanh G không phải chịu án phí.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân; về tài sản chung, nợ chung; về án phí sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Huỳnh Thanh G; Sửa Bản án sơ thẩm số: 50/2021/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long.

1. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phước N, sinh ngày 05/8/2017 cho anh Nguyễn Huỳnh Thanh G trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả anh Nguyễn Huỳnh Thanh G 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006779 ngày 29/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Z, tỉnh Vĩnh Long.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân; về tài sản chung, nợ chung; về án phí sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ