vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐTA — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Trần Thị B và chị Ngô Phương L.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Người yêu cầu bà Trần Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị Phương L"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Trần Thị B và chị Ngô Phương L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN ND TỈNH BẮC GIANG
TÒA ÁN ND HUYỆN SƠN ĐỘNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/QĐ-TASơn Động, ngày 02 tháng 8 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

1/ Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Trần Văn Toàn

- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Viết chung

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên họp: Ông Hoàng Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang tiến hành phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2021/TLST-VHNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2021 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐ-TA ngày 16 tháng 7 năm 2021, Quyết định hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐ-TA ngày 23 tháng 7 năm 2021,đối với:

3/ Người yêu cầu: Bà Trần Thị B, sinh năm 1973; có mặt Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

4/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Ngô Phương L, sinh năm 2002; có mặt Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Năm 2018, được sự đồng ý của gia đình chị Ngô Phương L, bà Trần Thị B nhận nuôi cháu L và đón cháu về nhà bà B sinh sống. Các bên làm thủ tục nhận nuôi con nuôi theo quy định, được UBND xã A (nay là thị trấn A) ra Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 04/QĐ-UBND ngày 29/10/2018.

Từ khi được nhận nuôi, chị Linh đã chuyển từ thành phố B lên ở cùng và nhập vào sổ hộ khẩu với gia đình bà B ở tổ dân phố T, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang để theo học tại Trường trung học phổ thông S số 1. Trong thời gian làm con nuôi, chị L đã được bà B nuôi dưỡng, chăm sóc, cho ăn học đầy đủ.

Đến nay chị L đã trên 18 tuổi, chuẩn bị đi học chuyên nghiệp và có mong muốn chuyển hộ khẩu về cư trú tại Thành phố B nên bà B, chị L đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi. Đương sự không yêu cầu giải quyết về quan hệ tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Sơn Động nhận định:

1. Về tố tụng: Bà Trần Thị B, chị Ngô Phương L đều có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố T, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi. Căn cứ vào khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là yêu cầu về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động.

2. Về nội dung: Bà Trần Thị B nhận nuôi chị Ngô Phương L và đón chị L về nhà bà B sinh sống. Các bên làm đã thủ tục nhận nuôi con nuôi theo quy định, được UBND xã A (nay là thị trấn A), huyện S ra Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 04/QĐ-UBND ngày 29/10/2018 nên đây là quan hệ nuôi con nuôi hợp pháp.

Đến nay chị L đã trên 18 tuổi, chuẩn bị đi học chuyên nghiệp và có mong muốn chuyển hộ khẩu về cư trú tại Thành phố B nên bà B, chị L đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi. Xét yêu cầu của đương sự là chính đáng, không vi phạm đạo đức xã hội và điều cấm của luật nên cần được chấp nhận.

3. Về lệ phí: Đương sự phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 25, 26 và 27 Luật nuôi con nuôi; Khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 361, 367, 370, 371 và 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1- Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Trần Thị B và chị Ngô Phương L.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật.

2 - Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị B phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số AA/2010/007359 ngày 06/7/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động; xác nhận bà B đã nộp đủ lệ phí.

3 - Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Quyết định này được công bố.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ