vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐST-VHN — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của bà Đỗ Thị T về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Tuyên bố chấm dứt quan hệ mẹ nuôi, con nuôi giữa bà Đỗ Thị T, sinh năm 1973 và chị Đỗ Ái Quỳnh A, sinh ngày 04/8/2002. Lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình: Bà Đỗ Thị T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đỗ Thị T yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của bà Đỗ Thị T về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2021/QĐST-VHN
Ngày: 08-01-2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc hôn nhân và gia đình gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thắm.

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 1049/2020/TLST- VHNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2020 về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 04/2020/QĐST-VHNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1973; thường trú: Số 22 đường K, khu trung tâm hành chính, khu phố Nh, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Ch, sinh năm 1963; thường trú: 416/29 đường Nguyễn Đình Ch, Phường 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Ông Trần Văn H, sinh năm 1966; thường trú: 32/7 đường Vườn Chuối, Phường 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Chị Đỗ Ái Quỳnh A, sinh ngày 04/8/2002, thường trú: 22 đường K, khu trung tâm hành chính, khu phố Nh, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình gửi đến Tòa án ngày 16/11/2020 và lời khai trong quá trình giải quyết việc hôn nhân và gia đình bà Đỗ Thị T trình bày: Vào năm 2003, bà T nhận chị Đỗ Ái Quỳnh A làm con nuôi theo quyết định công nhận nuôi con nuôi số: 01/QĐ-UB ngày 24/01/2003 của Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh và được đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu theo giấy khai sinh số 06, quyển số 103 ngày 27/02/2003. Nay chị Anh đã lớn, chị có nguyện vọng về với bố, mẹ ruột của chị Anh là bà Nguyễn Thị Ngọc Ch và Ông Trần Văn H. Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà với chị Đỗ Ái Quỳnh A.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc Ch, Ông Trần Văn H và chị Đỗ Ái Quỳnh A đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên họp. Tuy nhiên, tại bản tự khai họ thống nhất toàn bộ ý kiến của bà T và đồng ý với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà T.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình do bà Đỗ Thị T yêu cầu. Viện kiểm sát xét thấy, bà Đỗ Thị T là mẹ nuôi của chị Đỗ Ái Quỳnh A, bà T có yêu cầu chấp dứt việc nuôi con nuôi; mặt khác, chị Đỗ Ái Quỳnh Anh đã thành niên, có nguyện vọng muốn quay về sống cùng bố, mẹ ruột. Do đó, bà Đỗ Thị T yêu cầu chấm dứt quan hệ mẹ nuôi, con nuôi giữa chị Đỗ Ái Quỳnh A với bà là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

Về tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Vào năm 2003, bà T nhận cháu Đỗ Ái Quỳnh A làm con nuôi theo quyết định công nhận nuôi con nuôi số: 01/QĐ-UB ngày 24/01/2003 của Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh và được đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Tóc T, huyện T, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu theo giấy khai sinh số 06, quyển số 103 ngày 27/02/2003. Nay chị A đã trưởng thành, chị có nguyện vọng về sống với bố, mẹ ruột của cháu là bà Nguyễn Thị Ngọc Ch và Ông Trần Văn H. Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà với chị Đỗ Ái Quỳnh A. Do vậy, yêu cầu của bà Đỗ Thị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26 và Điều 27 Luật Nuôi con nuôi nên được Tòa án chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là phù hợp nên Tòa án chấp nhận.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình: Bà Đỗ Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 366, 367, 369, 370, 371 và 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 25, 26 và 27 Luật nuôi con nuôi; khoản 1 Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của bà Đỗ Thị T về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

- Tuyên bố chấm dứt quan hệ mẹ nuôi, con nuôi giữa bà Đỗ Thị T, sinh năm 1973 và chị Đỗ Ái Quỳnh A, sinh ngày 04/8/2002.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình: Bà Đỗ Thị T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0049035 ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ