vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T.

Tuyên bố Ông Lê Văn T1; Sinh năm 1963; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, mất năng lực hành vi dân sự. Về chi phí trưng cầu giám định: Bà Lê Thị T phải chịu 4.840.000đ (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) phí trưng cầu giám định được khấu trừ vào 4.840.0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tyên bố ông Lê Văn T1 mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2021/QĐST-VDSKrông Pắc, ngày 14 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thị Thu Hà.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhị - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KrôngPắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 20/2020/TLST-VDS, ngày 03 tháng 12 năm 2020 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 20/2021/QĐST-VDS, ngày 11 tháng 01 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị T, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Lê Văn T1, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

+ Ông Lê Văn B, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Tổ 3, khối 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

+ Bà Lê Thị S, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Khối 7, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

+ Bà Lê Thị N, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Khối 7, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1

* Tại Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự và bản tự khai, bà Lê Thị T trình bày:

Tôi là em gái ruột của ông Lê Văn T1, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. ÔngT1 sống độc thân, không có vợ, con. Vào năm 2016, ông Lê Văn T1 bị ngã gây tổn thương não dẫn tới bị liệt toàn thân, không nhận biết được gì, hiện nay chỉ nằm một chỗ mặc dù đã được các anh chị em trong gia đình tận tình cứu chữa. Tôi là người trực tiếp chăm sóc ông Lê Văn T1 từ năm 2016 đến nay. Ngày 02/11/2016, Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk xác nhận ông Lê Văn T1 là người khuyết tật và được hưởng trợ cấp xã hội từ năm 2016 đến nay. Vào ngày 08/01/2021, Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đã giám định và kết luận: Về y học: Ông Lê Văn T1 bị bệnh mất trí/Liệt toàn thân do tai biến mạch máu não (F01/G82-ICD10); Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích cho ông Lê Văn T1 tôi đề nghị Tòa án tuyên bố ông Lê Văn T1 mất năng lực hành vi dân sự.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn B, bà Lê Thị S và bà Lê Thị N trình bày: Chúng tôi là em ruột của ông Lê Văn T1, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Ông T1 sống độc thân không có vợ con. Năm 2016, ông T1 bị ngã gây tổn thương não dẫn tới bị liệt toàn thân, không nhận biết được gì. Ông T1 đang được em gái của chúng tôi là bà Lê Thị T chăm sóc từ năm 2016 đến nay. Đối với yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Văn T1 mất năng lực hành vi dân sự của bà Lê Thị T thì chúng tôi không có ý kiến gì. Đối với việc cử người giám hộ thì chúng tôi không có ý kiến hay tranh chấp gì với nhau. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, bà Lê Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk sau khi đánh giá chứng cứ, tài liệu do đương sự xuất trình, trên cơ sở kết luận giám định của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đối với ông Lê Văn T1. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk chấp nhận Đơn yêu cầu của bà Lê Thị T về việc tuyên bố ông Lê Văn T1 mất năng lực hành vi dân sự. Về việc cử người giám hộ: Do bà Lê Thị T, ông Lê Văn B, bà Lê Thị S và bà Lê Thị N không có tranh chấp gì về việc cử người giám hộ và người giám sát việc giám hộ theo quy định của pháp luật nên Tòa án không phải chỉ định mà để bà Lê Thị T tự thực hiện việc cử, đăng ký giám hộ, giám sát theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật hộ tịch.

2

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được kiểm tra tại phiên họp; Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn T1 là người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự cư trú tại tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự: Việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Xét yêu cầu của bà Lê Thị T về việc yêu cầu tuyên bố ông Lê Văn T1 mất năng lực hành vi dân sự: Ngày 26/11/2020, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk nhận được đơn yêu cầu của bà Lê Thị T, về việc yêu cầu tuyên bố ông Lê Văn T1 Mất năng lực hành vi dân sự. Để có căn cứ giải quyết đơn của bà Tuyết theo quy định của pháp luật, ngày 28/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 12/2020/QĐ-TA, trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên để thực hiện giám định: Ông Lê Văn T1 có bị mất năng lực hành vi dân sự hay không. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 02/KLGĐ, ngày 08/01/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đã kết luận:

“Đương sự: Lê Văn T1; Sinh năm: 1963; Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

1.1. Kết luận về y học: Hiện tại đương sự bị bệnh: Mất trí/Liệt toàn thân do tai biến mạch máu não (F01/G82 – ICD10).

1.2. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện tại đương sự: Mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.”

Tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự quy định:

“1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”

3

Do đó, Tòa án có đầy đủ căn cứ để khẳng định ông Lê Văn T1 mất năng lực hành vi dân sự phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự nên yêu cầu của bà Lê Thị T cần được chấp nhận

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về chi phí trưng cầu giám định: Ngày 04/01/2021, chị Phan Thị Hải Yến đã nộp thay bà Lê Thị T số tiền 4.840.000đ (Bốn triệu tàm trăm bốn mươi nghìn đồng) chi phí giám định tại phiếu thu ngày 04/01/2021, hóa đơn bán hàng số 0000256 ngày 04/01/2021 và phiếu thu số 001 ngày 04/01/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên.

Quá trình giám định, tiền phí và bồi dưỡng giám định đối tượng Lê Văn T1 là 4.840.000đ (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Do đó bà Lê Thị T phải chịu các chi phí giám định trên.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Lê Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 149; các Điều 361, 371, 372, 376, và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 22 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T.

Tuyên bố Ông Lê Văn T1; Sinh năm 1963; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, mất năng lực hành vi dân sự.

2. Về chi phí trưng cầu giám định: Bà Lê Thị T phải chịu 4.840.000đ (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) phí trưng cầu giám định được khấu trừ vào 4.840.000đ (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) tại tại phiếu thu ngày 04/01/2021, hóa đơn bán hàng số 0000256 ngày 04/01/2021 và phiếu thu số 001 ngày 04/01/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên.

3. Về lệ phí: Bà Lê Thị T phải nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), đươc khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Tuyết đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017656 ngày 26/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

4

Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

Cỡ chữ