vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 12/01/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận “ Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết” của chị Nguyễn Thị P

Hủy bỏ Quyết định số 01/2019/QĐST-DS, ngày 20 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tuyên bố chị Nguyễn Thị P là đã chết. Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó đã chết, trừ các trường… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "QĐ hủy tuyên bố một người đã chế Nguyễn Thị P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận “ Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết” của chị Nguyễn Thị P
  • Căn cứ chính? Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN - TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2021/QĐST-VDSVăn Yên, ngày 12 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đình Lâm

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên họp: Ông Lương Xuân Toản - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2020/TLST-VDS, ngày 17 tháng 12 năm 2020 về việc:"yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết" theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2021/QĐST-VDS, ngày 04 tháng 01 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị P. Sinh năm 1986. Có mặt

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Yên Bái.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn K. Sinh năm 1980. Có đơn đề nghị vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Người yêu cầu chị Nguyễn Thị P trình bày: Tại quyết định số: 01/2019/QĐST-DS, ngày 20 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã tuyên bố tôi là Nguyễn Thị P, sinh năm 1986. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Yên Bái là đã chết năm 2011.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị P là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của chị P được giải quyết như với người đã chết.

Quan hệ tài sản của chị Nguyễn Thị P bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của chị P được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Nay tôi đã trở về địa phương thì được biết là tôi đã bị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên tuyên bố là đã chết. Vì vậy tôi làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người là đã chết số: 01/2019/QĐST-DS, ngày 20 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đối với tôi theo quy định pháp luật để tôi khôi phục lại nhân thân của mình. Ngoài ra, tôi không yêu cầu nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn K trình bày: Tôi đã làm đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với chị Nguyễn Thị P. Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã mở phiên họp tuyên bố quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người là đã chết theo quyết định số: 01/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2019 đã tuyên bố chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1986. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Yên Bái là đã chết năm 2011. Đầu tháng 11 năm 2020, chị P trở về địa phương. Nay tôi xác nhận chị P đã trở về địa phương và vẫn còn sống. Chị P đề nghị Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết nêu trên với lý do chị đã trở về. Tôi không có ý kiến gì về yêu cầu của chị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viên kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Văn Yên nhận định:

Việc Tòa án nhân dân huyện Văn Yên thụ lý việc dân sự tuyên bố chị Nguyễn Thị P là đã chết tại Quyết định số: 01/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là đúng quy định của pháp luật.

Nay chị Nguyễn Thị P trở về địa phương và cung cấp cho Tòa án một số giấy tờ tùy thân và các tài liệu chứng cứ xác thực là chị P còn sống để Toà án xem xét giải quyết theo yêu cầu của chị P đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết số 01/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đối với chị Nguyễn Thị P là có căn cứ và được chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn K không có ý kiến gì về yêu cầu của chị Nguyễn Thị P đề nghị hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết số 01/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến. Quá trình thụ lý giải quyết việc dân sự Thẩm phán đã thực hiện đúng thủ tục Tố tụng dân sự. Quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu được đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị áp dụng Điều 73 Bộ luật Dân sự; Điều 369, Điều 370 và Điều 395 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị P. Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết số 01/2019/QĐST-DS, ngày 20 tháng 02 năm 2019 đối với chị Nguyễn Thị P của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 73 Bộ luật dân sự; Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 395 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHK14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận “ Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết” của chị Nguyễn Thị P

Hủy bỏ Quyết định số 01/2019/QĐST-DS, ngày 20 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tuyên bố chị Nguyễn Thị P là đã chết.

- Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó đã chết, trừ các trường hợp sau đây:

Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.

Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật

- Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn. Trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn toàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi túc, nếu gây thiệt hại phải bồi thường.

Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự, luật Hôn nhân và gia đình.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị P phải chịu: 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự. (Xác nhận chị P đã nộp đủ tiền lệ phí theo biên lai số: AA/2017/0005401, ngày 11/12/ 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Anh Hoàng Văn K vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ