vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Lò Văn D (cha nuôi), bà Quàng Thị T (mẹ nuôi) và anh Lò Thái H (con nuôi).

Lệ phí: Ông Lò Văn D chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2020/0000423 ngày 15/12/2020 của Chị cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Kháng cáo, kháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Từ chối con nuôi"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Lò Văn D (cha nuôi), bà Quàng Thị T (mẹ nuôi) và anh Lò Thái H (con nuôi).
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH
PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2021/QĐST-HNGĐĐiện Biên Phủ, ngày 05 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu xác định cha mẹ cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Nhung;

Thư ký phiên họp: Ông Quàng Văn Long;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện BIên tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2021, tại phòng họp Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 20/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2020; về việc: "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lò Văn D; địa chỉ: Bản H2, phường H, thành phố Đ, tỉnh Đ - Có mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Quàng Thị T; địa chỉ: Bản H2, phường H, thành phố Đ, tỉnh Đ - Có mặt;

Anh Lò Thái H; địa chỉ: Bản Him Lam 2, phường H, thành phố Đ, tỉnh Đ - Có mặt.

Nội dung yêu cầu: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Lò Văn D, bà Quàng Thị T và anh Lò Thái H.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu ngày 08/12/2020 và tại phiên họp ông Lò Văn D trình bầy:

Tháng 3 năm 2000 ông Lò Văn D và bà Quàng Thị T nhận anh Lò Thái H, sinh ngày 29/5/1998 làm con nuôi. Thủ tục cho và nhận con nuôi ông D và bà T đã làm đầy đủ theo quy định; ngày 20/3/2000 UBND phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã ban hành Quyết định công nhận nuôi con nuôi theo yêu cầu của ông D và bà T. Từ đó đến nay ông D và bà T nuôi anh H theo đúng trách nhiệm của người bố, người mẹ. Nay anh H đã 22 tuổi nhưng không nghe lời bố mẹ, không chịu học hành, làm ăn lại thường chơi bời, riệu chè. Tháng 7/2020 anh H đã bỏ nhà đi 04 tháng nhưng gia đình không biết anh H đi đâu, làm gì; khi không có tiền tiêu thì mới gọi điện xin tiền. Ông D đã làm đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh H, nhưng sau đó đã rút đơn về để cho anh H cơ hội thay đổi; nhưng không anh H vẫn chứng nào tật ấy. Nay gia đình ông D đã thống nhất không tiếp tục việc nuôi con nuôi đối với anh H nữa. Vì vậy, ông D làm đơn yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông D và anh H.

Lệ phí giải quyết việc dân sự ông D sẽ chịu toàn bộ.

Tại văn bản trả lời thông báo của Tòa án đề nghị ngày 24/12/2020 và tại phiên họp bà Quàng Thị T trình bầy:

Bà Quàng Thị T và ông Lò Văn D nhận anh Lò Thái H, sinh ngày 29/5/1998 làm con nuôi từ tháng 3 năm 2000 như ông D đã trình bầy tại phiên họp. Thời gian gần đây anh H không nghe lời bố mẹ, không tu chí làm ăn, thường chơi bời lêu lổng, rượu chè. Bà T đồng ý với yêu cầu của ông D về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông D và bà T đối với anh H.

Tại văn bản trả lời thông báo của Tòa án đề nghị ngày 23/11/2020 và tại phiên họp anh Lò Thái H trình bầy:

Anh Lò Thái H được ông Lò Văn D và bà Quàng Thị T nhận làm con nuôi từ nhỏ. Thời gian gần đây anh H có những việc làm không đúng với bố mẹ nuôi. Trước đây ông D đã một lần có đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh H, anh H đã hứa sửa chữa nên ông D rút đơn yêu cầu. Nay ông D tiếp tục yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh H thì anh H đồng ý, vì hiện anh H đã trưởng thành, có thể sống tự lập.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp. Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất chấm dứt việc nuôi con nuôi. Yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông D là có căn cứ, đề nghị Tòa án chấp nhận. Lệ phí giải quyết việc dân sự đề nghị giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhận định:

Về thẩm quyền: Yêu cầu "Chấm dứt việc nuôi con nuôi" của ông Lò Văn D đối với anh Lò Thái H cùng có địa chỉ tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo khoản 5 Điều 29, Điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự và Điều 10 Luật nuôi con nuôi.

Về việc thu lý yêu cầu: Ngày 09/12/2020 ông Lò Văn D nộp cho Tòa án đơn yêu cầu Chấm dứt việc nuôi con nuôi cùng tài liệu chứng cứ có liên quan. Ngày 21/12/2020 ông D nộp cho Tòa án biên lai thu lệ phí việc dân sự; cùng ngày Tòa án đã thụ lý yêu cầu của ông D theo Điều 363 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Các vấn đề khác: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông D (bố nuôi) có liên quan đến anh Lò Thái H (con nuôi) và bà Quàng Thị T (mẹ nuôi) nên Tòa án đã đưa những người này vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi: Ông Lò Văn D và bà Quàng Thị T nhận nuôi anh Lò Thái H sinh ngày 29/5/1998 từ khi anh H chưa được hai tuổi và đã làm thủ tục nhận con nuôi theo quy định tại Điều 8 và 9 của Luật nuôi con nuôi. Sau khi nhận con nuôi, ông D và bà T đã thực hiện đúng nghĩa vụ của bố mẹ nuôi theo Luật nuôi con nuôi và Luật hôn nhân gia đình. Quá trình nuôi, gần đây anh H không nghe lời bố mẹ nuôi, không chịu khó làm ăn, ham chơi bời; mặc dù gia đình đã khuyên bảo nhưng anh H không thay đổi. Ông D yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh H; bà T và anh H đều đồng ý với yêu cầu của ông D. Vì vậy, yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông D là có căn cứ theo khoản 1 Điều 25 của Luật nuôi con nuôi, nên Tòa án cần chấp nhận.

Về lệ phí: Ông D chịu toàn bộ lệ phí việc dân sự theo Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 29, Điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 10 và khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi;

Căn cứ khoản 1 Điều 78 Luật hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố: Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Lò Văn D (cha nuôi), bà Quàng Thị T (mẹ nuôi) và anh Lò Thái H (con nuôi). Quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.

2. Lệ phí: Ông Lò Văn D chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2020/0000423 ngày 15/12/2020 của Chị cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

4. Kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ