vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội Liên hiệp phụ nữ huyện B, tỉnh Lào Cai.

Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K. Công nhận quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K kể từ ngày 21/02/2004 (thời điểm chị Trần Thị T đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật). Về lệ phí sơ thẩm gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật"
  • Tòa quyết gì? Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội Liên hiệp phụ nữ huyện B, tỉnh Lào Cai.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI
Số: 01/2021/QĐST-HNGĐ
Bảo Thắng, ngày 12 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” và

“Yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.

T ký phiên họp: Ông Hà Tiến Dũng - T ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 100/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2020 về việc “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” và thụ lý số 100A/2020/TLST-HNGĐ ngày 18/12/2020 về việc “Yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Hội Liên hiệp phụ nữ huyện B, tỉnh Lào Cai.

Địa chỉ trụ sở: Thị trấn L, huyện B, tỉnh Lào Cai

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị H - Chức vụ: Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ huyện B, tỉnh Lào Cai.

Địa chỉ: Thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trần Thị T - Sinh ngày: 21/02/1986.

Địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2. Anh Trần Hữu K - Sinh ngày: 10/7/1981.

Địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

3. UBND xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Viết K - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Địa chỉ: xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai ngày 22/12/2020, người đại diện hợp pháp của Hội liên hiệp phụ nữ huyện Bảo Thắng là bà Bùi Thị H trình bầy:

Chị Trần Thị T, sinh ngày 21/02/1986 và anh Trần Hữu K, sinh ngày 10/7/1981 đăng ký kết hôn ngày 10/02/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Khi kết hôn, chị Trần Thị T đã vi phạm điều kiện kết hôn là chưa đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Ngoài ra, chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K không vi phạm điều kiện kết hôn nào khác của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K, để làm căn cứ cho cơ quan đăng ký hộ tịch cải chính thông tin cá nhân đối với chị Trần Thị T theo quy định. Việc chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Hội liên hiệp phụ nữ không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.

2. Theo đơn yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân và bản tự khai cùng ngày 18/12/2020 cũng như tại phiên họp, chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K đều trình bày:

Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn, chị Trần Thị T đã kê khai ngày, tháng năm sinh là 21/02/1985 nên tại thời điểm đăng ký kết hôn đảm bảo độ tuổi theo quy định. Tuy nhiên đến nay chị T đã làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cải chính hộ tịch từ ngày, tháng năm sinh 21/02/1985 thành 21/02/1986, do đó đã vi phạm điều kiện kết hôn là chưa đủ độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật; Chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K không vi phạm điều kiện kết hôn nào khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Đến nay anh, chị vẫn chung sống H phúc và mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm anh, chị đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định.

Tại bản tự khai ngày 29/12/2020, người đại diện theo pháp luật của UBND xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng trình bầy: Khi thực hiện việc đăng ký kết hôn cho chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K, tư pháp xã Xuân Quang chỉ căn cứ vào tờ khai của công dân mà chưa đối chiếu với các giấy tờ có liên quan nên không xác định chính xác ngày sinh của chị Trần Thị T. Do đó UBND xã Xuân Quang đã thực hiện việc đăng ký kết hôn cho chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K theo kê khai của cá nhân. Đến nay chị Trần Thị T đã làm thủ tục cải chính hộ tịch cá nhân, sau khi đối chiếu với các giấy tờ có liên quan, xác định chị Trần Thị T sinh ngày 21/02/1986 là chính xác. Vì vậy Hội liên hiệp phụ nữ huyện B yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K thì UBND xã X nhất trí. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết và công nhận quan hệ hôn nhân cho chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K kể từ khi chị Trần Thị T đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến phiên họp hôm nay: Thẩm phán, T ký đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng giải quyết việc dân sự. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tham gia phiên họp, đề nghị áp dụng Điều 149, Điều 367, Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 8, điểm d khoản 2 Điều 10, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm d khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Tờng vụ Quốc hội.

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K kể từ ngày 10/02/2003 đến ngày 21/02/2004.

Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K. Công nhận quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K kể từ ngày 21/02/2004 (thời điểm chị Trần Thị T đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định).

Tuyên nghĩa vụ chịu lệ phí việc dân sự và quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” của Hội liên hiệp phụ nữ huyện Bảo Thắng và "Yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân" của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K đều đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật. Vì vậy đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 29, 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Hội liên hiệp phụ nữ huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đã nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Theo giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 10/02/2003 của UBND xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai có ghi chị Trần Thị T – Sinh ngày: 21/02/1985 nên tại thời điểm đăng ký kết hôn thì chị T đủ độ tuổi theo quy định. Tuy nhiên đến nay, chị Trần Thị T đã làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cải chính hộ tịch của cá nhân; Theo trích lục cải chính hộ tịch số 249/TLCCHT ngày 14/9/2020 của UBND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đã cải chính năm sinh của chị Trần Thị T trong sổ đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 10/02/2003 từ ngày, tháng, năm sinh 21/02/1985 thành 21/02/1986.

Hơn nữa, theo giấy khai sinh, chứng minh T nhân dân, sổ hộ khẩu và các giấy tờ liên quan đều ghi chị Trần Thị T- Sinh ngày: 21/02/1986. Căn cứ các giấy tờ liên quan sau khi đã cải chính hộ tịch thì chị Trần Thị T đã vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Vì vậy, việc Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K theo giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 10/02/2003 của UBND xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng là có căn cứ. Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 8, Điểm d khoản 2 Điều 10, Khoản 1 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K kể từ ngày 10/02/2003 đến ngày 21/02/2004 (ngày chị Trần Thị T đảm bảo độ tuổi kết hôn theo quy định).

Người đại diện theo pháp luật của UBND xã X cũng nhất trí với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của Hội liên hiệp phụ nữ huyện B, đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm chị Trần Thị T đủ độ tuổi theo quy định, ngoài ra đại diện theo pháp luật của UBND xã X không có ý kiến gì khác.

Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân: Tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh, chị vẫn chung sống H phúc và đã có con chung. Đến nay anh, chị đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân theo quy định. Vì vậy cần công nhận quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K kể từ thời điểm anh, chị đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn, kể từ ngày 21/02/2004 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Hội Liên hiệp phụ nữ huyện B, tỉnh Lào Cai không phải chịu lệ phí yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định.

Chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K phải chịu lệ phí yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 149, Điều 367, Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 8, điểm d khoản 2 Điều 10, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm d khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Tờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

2. Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội Liên hiệp phụ nữ huyện B, tỉnh Lào Cai. Hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K kể từ ngày 10/02/2003 đến ngày 21/02/2004.

3. Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K. Công nhận quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K kể từ ngày 21/02/2004 (thời điểm chị Trần Thị T đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật).

4. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Hội Liên hiệp phụ nữ huyện B, tỉnh Lào Cai không phải chịu tiền lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K phải chịu lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002684 ngày 18/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

Việc dân sự vắng mặt người yêu cầu và đại diện theo pháp luật của UBND xã X, có mặt chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K. Người yêu cầu và đại diện theo pháp luật của UBND xã Xuân Quang có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định; Chị Trần Thị T và anh Trần Hữu K có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ