vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Lan Tr và anh Nguyễn Bá Th thống nhất thuận tình ly hôn. Về con chung: Chị Tr và anh Th có 01 con chung Cháu Nguyễn Bá Ph, sinh ngày 22/12/2019. Anh chị thống nhất: Chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ph, anh Th cấp dưỡng nuôi con cùng chị Tr mỗi tháng 2.000.000 đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Lan Tr xin ly hôn anh Nguyễn Bá Th"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG SƠN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2021/QĐST-HNGĐĐông Sơn, ngày 24 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA

Sau khi nghiên cứu hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số 01 ngày 10/5/2021 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” của những người yêu cầu:

1. Chị Trần Thị Lan Tr, sinh năm: 1995

2. Anh Nguyễn Bá Th, sinh năm: 1990 Đều có địa chỉ: thôn Hoàng Thịnh, xã Đông Phú, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG HÒA GIẢI THÀNH

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

[2] Nội dung yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án:

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Lan Tr và anh Nguyễn Bá Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đông Phú, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 18/11/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Th chơi lô đề, cờ bạc không quan tâm đến vợ con, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên đầu năm 2021 vợ chồng đã ly thân cho đến nay, không quan tâm chăm sóc đến nhau, nay anh chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị thống nhất thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Chị Tr và anh Th có 01 con chung Cháu Nguyễn Bá Ph, sinh ngày 22/12/2019. Anh chị thống nhất: Chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ph, anh Th cấp dưỡng nuôi cháu Ph cùng chị Tr mỗi tháng là 2.000.000 đồng kể từ tháng 6/2021 cho đến khi cháu Ph tròn 18 tuổi.

Xét thấy sự thỏa thuận của anh chị là tự nguyện; tại thời điểm thỏa thuận, chị Trang có nhà ở, có công việc và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện chăm sóc tốt cho con; mặt khác, từ khi anh chị ly thân, cháu Ph chung sống cùng chị Tr nên anh Th thống nhất để con cho chị Tr tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự ổn định môi trường học tập, sinh hoạt cho cháu Ph.

Anh Th cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Tr là phù hợp. Vì vậy, chấp nhận sự thỏa thuận của anh chị.

- Về tài sản và vay nợ: Chị Tr và anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 07/5/2021;

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

QUYẾT ĐỊNH

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

-Về hôn nhân: Chị Trần Thị Lan Tr và anh Nguyễn Bá Th thống nhất thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Chị Tr và anh Th có 01 con chung Cháu Nguyễn Bá Ph, sinh ngày 22/12/2019. Anh chị thống nhất: Chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ph, anh Th cấp dưỡng nuôi con cùng chị Tr mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 6/2021 cho đến khi cháu Ph tròn 18 tuổi.

Anh Th có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản và vay nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về chi phí hòa giải tại Tòa án: Chị Trần Thị Lan Tr và anh Nuyễn Bá Th không phải chịu.

3. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự.

4. Những người yêu cầu có quyền đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà không thực hiện được quyền đề nghị theo đúng thời hạn thì thời gian đó không tính vào thời hạn đề nghị. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ