- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Văn Sợi"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2021/QĐST- DS | Quảng Ninh, ngày 13 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“V/v Yêu cầu tuyên bố một người bị khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Nguyễn Thúy Hằng;
Thư ký phiên họp: ông Lê Xuân Duy – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên họp: bà Trần Thị Hương Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường xét xử số 4 – Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2021/TLST-DS ngày 18/01/2021 về viêc: “Yêu cầu tuyên bố một người bị khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2021/QĐST-DS ngày 01/12/2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1946; nơi đăng ký hộ khẩu: P1 nhà 25T1, tổ 21, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: tòa nhà Home City – P.26-V2-177 T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1948;
2. Ông Nguyễn Văn So, sinh năm 1950;
3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953;
4. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958;
Cùng địa chỉ: tổ 10, khu 1, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, đều có mặt.
5. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1952; địa chỉ: tổ 29, khu 2B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
6. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; địa chỉ: tổ 30C, khu 2, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
7. Ông Nguyễn Văn S, sinh ngày 11/8/1943; quốc tịch: Pháp; hộ chiếu số: 13CL75385 do Cộng Hòa Pháp cấp ngày 18/9/2013; nơi cư trú hiện tại: tổ 10, khu 1, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông Nguyễn Văn S, sinh ngày 11/8/1943; quốc tịch: Pháp. Năm 1991, ông S đi ô tô bị lật gây chấn thương sọ não, được điều trị tại Pháp bệnh ổn định. Đến năm 1997, ông S đang đi trên đường bị giật máy ảnh và bị đánh vào đầu gây chấn thương sọ não. Từ năm 2000, ông S phải về Việt Nam sinh sống vì tại Pháp ông S không có ai là người thân thích.
Tại giấy chứng nhận sức khỏe của phòng y tế Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam chứng nhận ngày 12/11/2015, có nội dung: “ Bác sĩ Herve Mangon, nhân viên y tế của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội chứng nhận: ông Nguyễn Văn S, sinh ngày 11/8/1943, bị di chứng thần kinh nặng cần phải thường xuyên có sự hiện diện của người thứ ba đối với các hoạt động của cuộc sống hằng ngày đặc biệt là đi lại”; tại bản tóm tắt bệnh án số: 66/2019/TTBA – BVBVSKTT thuộc Sở Y tế Quảng Ninh đề ngày 02/10/2019 và giấy chứng nhận sức khỏe tâm thần đề ngày 27/3/2019 của Bệnh viện Bảo về sức khoẻ tâm thần Quảng Ninh chuẩn đoán: ông Nguyễn Văn S rối loạn tâm thần do tổn thương chức năng não.
Ông S không có vợ, con; không có tài sản; được hưởng chính sách hỗ trợ của nước Cộng hòa Pháp. Hiện tại đang sinh sống cùng với em gái là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953; địa chỉ: tổ 10, khu 1, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Biểu hiện hiện nay của ông S: tỉnh, tiếp xúc hạn chế, vận động kém, bị sa sút trí tuệ mức độ nặng sau chấn thương sọ não.
Do bố mẹ ông S đều đã chết, các em ruột của ông S gồm: bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị T, cùng thỏa thuận về việc: cử bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn S, là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu tuyên bố: ông Nguyễn Văn S, là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì các ông bà cùng thống nhất cử bà Nguyễn Thị T, là người giám hộ của ông S để hỗ trợ ông S trong các giao dịch dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông Sợi theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận định:
Tại phiên họp:
- Ông Nguyễn Văn S với sự hỗ trợ của các em ruột đã đưa ra quan điểm đồng ý để bà Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án tuyên bố ông là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cử bà Th là người giám hộ cho ông S.
- Bà Nguyễn Thị H có quan điểm: bà tự nguyện chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho ông S, không yêu cầu được cử là người giám hộ cho ông S. Bà đồng ý việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông S là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cử bà T là người giám hộ cho ông S vì bà T biết tiếng Pháp, sinh sống tại Hà Nội gần Đại sứ quán Pháp, thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề, công việc có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông S.
- Bà Nguyễn Thị T có quan điểm: gia đình bà có 10 anh chị em ruột, hai người đã chết (anh trai Nguyễn Văn G, sinh năm 1940 đã chết ngày 19/02/2018; em trai Nguyễn Văn D, sinh năm 1955 đã chết ngày 05/12/1979), còn 08 anh chị em, ông S là anh thứ hai. Ông S có quốc tịch Pháp, sinh sống tại Pháp; năm 1991, ông S gặp tai nạn giao thông (ô tô bị lật) đã bị chấn thương sọ não được điều trị tại Pháp bệnh ổn định, đến năm 1997, ông S đang đi trên đường bị giật máy ảnh và bị đánh vào đầu lại gây chấn thương sọ não, sức khỏe yếu nên từ năm 2000, ông S phải về Việt Nam sinh sống vì tại Pháp ông S không có ai là người thân thích. Bà được anh chị em cử là người yêu cầu Tòa án tuyên bố ông S là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cử bà là người giám hộ cho ông S vì hiện nay ông S tuy tỉnh nhưng tiếp xúc hạn chế, vận động kém, bị sa sút trí tuệ. Khi được Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà, bà chỉ nhận một số nghĩa vụ và quyền của người giám hộ theo quy định pháp luật để hỗ trợ ông S trong các giao dịch dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông S theo quy định của pháp luật. Bà không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, bảo đảm điều trị bệnh cho ông S, việc này bà H đã tự nguyện thực hiện; đối với quyền của người giám hộ: bà từ chối quyền được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ.
- Ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Ph, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị T, cùng có quan điểm: nhất trí với quan điểm của ông S, bà H và bà Th trình bày nêu trên, không có yêu cầu gì khác.
Tại bản kết luận giám định sức khỏe tâm thần số: 110/KLGĐ, ngày 05/11/2021 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương kết luận: tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Văn S bị bệnh mất trí trong bệnh Alzheimer mức độ nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F00. Đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên họp có quan điểm đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn S, là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cử bà Nguyễn Thị Th là người giám hộ cho ông S.
Xét ông Nguyễn Văn i bị bệnh mất trí trong bệnh Alzheimer mức độ nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F00. Đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th về viêc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn S là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cử bà Th là người giám hộ cho ông S, là phù hợp với quy định của pháp luật, có cơ sở chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: người yêu cầu bà Nguyễn Thị Th phải chịu lệ phí sơ thẩm, tuy nhiên bà Th là người cao tuổi. Căn cứ quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Thân được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị Th tự nguyện chịu chi phí giám định sức khỏe tâm thần đối với ông Nguyễn Văn S là 4.333.750 đồng (Bốn triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, bẩy trăm năm mươi đồng), đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, theo quy định tại Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 27; Điều 149; Điều 161; Điều 361; Điều 366; Điều 370; Điều 371; Điều 376; Điều 377; Điều 378; Điều 464 và điểm d Khoản 2 Điều 470 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 23; Khoản 1 Điều 46; điểm d Khoản 1 Điều 47; Khoản 1 Điều 48; Điều 53; Khoản 4 Điều 54; Khoản 2 Điều 57; Khoản 2 Điều 58 và Khoản 2 Điều 59 của Bộ luật dân sự 2015. Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th.
[2] Tuyên bố ông Nguyễn Văn S, sinh ngày 11/8/1943; quốc tịch: Pháp; hộ chiếu số: 13CL75385 do Cộng Hòa Pháp cấp ngày 18/9/2013; nơi cư trú hiện tại: tổ 10, khu 1, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
[3] Cử bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1946; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký hộ khẩu: P1308 nhà 25T1, tổ 21, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: tòa nhà Home City – P.26.01-V2-177 Trung Kính, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn S.
Bà Nguyễn Thị Th có:
* Các nghĩa vụ của người giám hộ đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau đây:
- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
- Quản lý tài sản của người được giám hộ (nếu có) như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ; không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
* Các quyền của người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau đây:
- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;
- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ;
[4] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị T được miễn lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự.
[5] Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị T tự nguyện chịu chi phí giám định sức khỏe tâm thần đối với ông Nguyễn Văn S là 4.333.750 đồng (Bốn triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, bẩy trăm năm mươi đồng), đã nộp đủ.
[6] Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu, người CQLNVLQ; - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh; - Lưu VP; HSVDS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thúy Hằng |