vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐHG-DS — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 04/05/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

Nguyên đơn: Ông Lương Ngọc T, sinh năm 1945; nơi cư trú: Phố N, thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Bị đơn: Công ty Cổ phần X; địa chỉ trụ sở: Khu đô thị PG, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thi công công trình xây dựng làm hư hỏng nhà ở"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
Số: 01/2021/QĐHG-DS
Quận Ngô Quyền, ngày 04 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thẩm phán ra quyết định: Lê Thị Hậu

Căn cứ vào các điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 15 tháng 4 năm 2021 về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án dân sự tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thi công công trình xây dựng làm hư hỏng nhà ở, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Lương Ngọc T, sinh năm 1945; nơi cư trú: Phố N, thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lương Thị H, sinh năm 1953; nơi cư trú: Phố N, thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. (văn bản ủy quyền ngày 14/3/2020)

- Bị đơn: Công ty Cổ phần X; địa chỉ trụ sở: Khu đô thị PG, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Dương Văn C, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện Y, tỉnh N là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 1504/UQ-XD201 ngày 15/4/2021).

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

- Nguyên đơn: Ông Lương Ngọc T, sinh năm 1945; nơi cư trú: Phố N, thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần X; địa chỉ trụ sở: Khu đô thị PG, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng.

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

Ông Lương Ngọc T và Công ty Cổ phần X thống nhất thỏa thuận: Công ty Cổ phần X phải bồi thường cho ông Lương Ngọc T tổng số tiền 85.000.000 (tám mươi lăm triệu) đồng vào ngày 29/4/2021, trong đó gồm 70.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại do Công ty Cổ phần X khi thi công công trình xây dựng đã làm hư hỏng diện tích nhà 37,8 m2 của ông Lương Ngọc T tại địa chỉ số M đường N, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng và 15.000.000 đồng tiền lãi chậm trả đối với khoản tiền bồi thường trên từ tháng 11/2018 đến ngày 15/4/2021.

Kể từ ngày ông Lương Ngọc T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần X còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thanh toán (theo thỏa thuận trên) theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ