- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Phan Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2021/QĐDS-ST Ngày: 04/01/2021 V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Hữu Hạnh - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Kim Thu - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 267/2020/TLST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2020 về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số: 07/2020/QĐPH-DSST ngày 25 tháng 12 năm 2020.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Phan Thị H.
Địa chỉ: phường TTH, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn M Hoàng N.
Nơi cư trú cuối cùng: phường TTH, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn M Hoàng T.
Địa chỉ: phường TTH, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị M T.
Địa chỉ: phường TTH, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt).
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Phan Thị H làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1943 và ông Nguyễn M Hoàng N, sinh năm 1973, nơi cư trú cuối cùng: phường TTH, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
Tại phiên họp:
Bà Phan Thị H vào ngày 25/12/2020 có làm đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Thẩm phán công bố đơn yêu cầu, bản tự khai của bà H, các tài liệu, chứng cứ do bà H cung cấp thể hiện nội dung như sau: Bà Phan Thị H là vợ của ông Nguyễn Văn M và là mẹ ông Nguyễn M Hoàng N. Vào năm 1986 ông M đã dẫn ông N bỏ nhà đi khỏi địa phương. Từ khoảng thời gian đó đến nay dù gia đình bà đã nhiều lần tìm kiếm, liên lạc nhưng không có tin tức gì về ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn M Hoàng N còn sống hay là đã chết. Việc này có xác nhận của Công an phường Tân Thới Hiệp, Quận 12 ngày 29/7/2020. Do đó, bà Phan Thị H làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn M Hoàng N là đã chết để bà H thuận tiện làm các giấy tờ thủ tục hành chính, dân sự.
Ông Nguyễn M Hoàng Triều và bà Nguyễn Thị M Thảo vào ngày 25/12/2020 có xin vắng mặt tại phiên họp nên Thẩm phán công bố bản tự khai của ông Triều và bà Thảo thể hiện nội dung như sau: Vào năm 1986 cha của ông Triều và bà Thảo là ông Nguyễn Văn M đã dẫn anh trai là Nguyễn M Hoàng N bỏ nhà đi khỏi địa phương đến nay không thể liên lạc được mặc dù gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức gì. Nay ông Triều và bà Thảo thống nhất với yêu cẩu của bà H tuyên bố Nguyễn Văn M và ông Nguyễn M Hoàng N là đã chết và xin mở phiên họp vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự và Thư ký phiên họp: Từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán, Hội đồng ra quyết định giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự và Thư ký phiên họp đã chấp hành đúng quy định tại Điều 367 đến Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán, Hội đồng ra quyết định giải quyết việc dân sự, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị H gửi đơn yêu cầu và Tòa án nhân dân Quận 12 thụ lý việc dân sự về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” là có căn cứ và đúng với quy định tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1943 và ông Nguyễn M Hoàng N sinh năm 1973, nơi cư trú cuối cùng: 60/1, khu phố 2A, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; ông M đã dẫn ông N đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 1986 mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông M và ông N đến nay còn sống hay đã chết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà H, tuyên bố ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn M Hoàng N là đã chết theo quy định tại các Điều 392, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Bà Phan Thị H là vợ ông Nguyễn Văn M và là mẹ của ông Nguyễn M Hoàng N. Ông M đã dẫn ông N bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 1986 (không rõ ngày tháng) đến nay không có tin tức gì là còn sống hay đã chết. Ông M và ông N không một lần quay về và cũng không ai biết ông M và ông N đang làm ăn, sinh sống ở đâu hay là đã chết. Đến ngày 12/11/2019 bà H có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn M Hoàng N là đã chết và đã được Tòa án chấp nhận thụ lý yêu cầu này của bà. Đồng thời, Tòa án đã thực hiện các thủ tục thông báo tìm kiếm theo quy định như: Quyết định số 02/2020/QĐST-DS ngày 10/8/2020 về việc Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1943 và ông Nguyễn M Hoàng N, sinh năm 1973, nơi cư trú cuối cùng: phường TTH, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã được đăng phát trong 03 số trong 03 kỳ liên tiếp trên Đài Truyền hình Việt N, Báo Công Lý và Cổng thông tin điện tử của Tòa án trong thời hạn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định nhưng ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn M Hoàng N vẫn không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết.
Từ những căn cứ trên, Tòa khẳng định ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn M Hoàng N đã bỏ địa phương đi từ năm 1986 (không rõ ngày tháng) không để lại tin tức, bà Phan Thị H đã thực hiện việc thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực về ông M và ông N còn sống hay là đã chết. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà H và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn M Hoàng N là đã chết. Đối với phần quản lý tài sản, bà H không yêu cầu nên Tòa không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 371, 372, 392, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 1 Điều 68, Điều 71, 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Phan Thị H.
Tuyên bố ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1943 và ông Nguyễn M Hoàng N, sinh năm 1973, nơi cư trú cuối cùng: phường TTH, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Ngày chết là: Ngày 02/01/1992. Quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông M và ông N được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông M và ông N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0108797 ngày 25 tháng 5 năm 2020. Bà H đã nộp đủ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND Quận 12; - Chi cục THADS Quận 12; - UBND phường Tân Thới Hiệp, Quận 12; - Lưu hồ sơ vụ án. 0 5 .2 2 5 : . 4 5 1 0 - 1 T 2 S 0 S 2 D . - 1 7 .0 6 4 2 0 PHAN THỊ H | THẨM PHÁN Trương Hữu Hạnh |