vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐCNHGT-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận các nội dung hòa giải thành giữa: Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H thuận tình ly hôn. Về con chung: Giao các con chung Đặng Văn Q, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2006 và Đặng Thị B, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2008 cho anh Đặng Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung Đặng Văn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận kết quả hòa giải thành"
  • Tòa quyết gì? Công nhận các nội dung hòa giải thành giữa: Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2021/QĐCNHGT-HNGĐNam Đàn, ngày 07 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận kết quả Hòa giải ngày 22 tháng 3 năm 2021 cùng tài liệu kèm theo của Hòa giải viên chuyển đến để ra Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành giữa:

- Anh Đặng Văn K, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Xóm X, xã KS, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An.

- Chị Lê Thị H, sinh năm 1985.

Nơi ĐKHKTT: Xóm X, xã KS, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An.

Chỗ ở hiện nay: Xóm PX, xã TPC, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG HÒA GIẢI:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H thống nhất vợ chồng có 03 con chung là: Đặng Văn Q, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2006; Đặng Thị B, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2008 và Đặng Văn N, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2015. Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H thỏa thuận: Giao các con chung: Đặng Văn Q và Đặng Thị B cho anh Đặng Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung Đặng Văn N cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về tài sản chung và các khoản nợ: Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H không yêu cầu giải quyết.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo; xét các nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên ghi trong biên bản là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng, con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào các Điều 32, 33, 34, 35 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Căn cứ vào các Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận các nội dung hòa giải thành giữa: Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao các con chung Đặng Văn Q, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2006 và Đặng Thị B, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2008 cho anh Đặng Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung Đặng Văn N, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2015 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do cả hai bên đều trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu. Anh Đặng Văn K và chị Lê Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Trên cơ sở lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung và các khoản nợ: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ