vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐ-TA

TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tuyên án 18/01/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh H (Địa chỉ: thành phố C, tỉnh H) đối với Nguyễn Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nguyễn Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; Phòng Lao động – Thương b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh H (Địa chỉ: thành phố C, tỉnh H) đối với Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ K
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2021/QĐ-TAK, ngày 18 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH H

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán:

Ông Trần Văn Khánh

2. Thư ký phiên họp:

Bà Trương Thị Hiền Lương

Ngày 18 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã K tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 01/2021/QĐ-PH ngày 08 tháng 01 năm 2021 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; Giới tính: Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12.

ĐKHK: KDC D, phường T1, thị xã K, tỉnh H

Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định;

Nghề nghiệp: Không.

Con ông Nguyễn Văn K1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K2, sinh năm 1957

Tiền án, tiền sự: Không. Vắng mặt

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Phó phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã K, tỉnh H. Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát thị xã K: Bà Nguyễn Thị Hương – Kiểm sát viên. Có mặt

NHẬN THẤY:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Nguyễn Văn T, có hành vi vi phạm như sau:

Vào hồi 08 giờ 10 phút, ngày 11/12/2020, tại khu vực cánh đồng thuộc KDC D, phường T1, thị xã K, tỉnh H, Nguyễn Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamin. Khi T vừa sử dụng xong, thì bị lực lượng Công an phường T1 phát hiện. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T đã bị Công an phường T1 lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ tang vật vi phạm hành chính gồm: 01 lọ nhựa, 01 cóng thủy tinh, 01 bật lửa ga, 02 ống hút bằng nhựa.

Tại biên bản làm việc, biên bản ghi lời khai, bản tường trình: Nguyễn Văn T thừa nhận vào hồi 08 giờ 10 phút, ngày 11/12/2020, tại khu vực cánh đồng thuộc KDC D, phường T1, thị xã K, tỉnh H, T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamin hay còn gọi là ma túy đá, sau khi sử dụng ma túy, T bị Công an phường T1 phát hiện, lập biên bản vụ việc, thu giữ cùng tang vật.

Tại biên bản xác minh của Công an phường T1, thị xã K xác định: Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy đã nhiều năm, thường xuyên lang thang không nghề nghiệp, không có nơi cư trú ổn định.

Ngày 11 tháng 12 năm 2020, Công an phường T1 có văn bản đề nghị Trạm ý tế phường T1 xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn Văn T. Tại các biên bản xét nghiệm, xác định tình trạng người nghiện ma túy ngày 11/12/2020; ngày 12/12/2020 và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16/12/2020 của Trạm y tế phường T1 đối với Nguyễn Văn T, xác định anh Nguyễn Văn T có nghiện ma túy loại Methamphetamin.

Ngày 16 tháng 12 năm 2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T1 ra Quyết định số 68/QĐ-UBND giao Nguyễn Văn T cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh H quản lý, cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại công văn số 312/LĐTBXH ngày 30/12/2020, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã K đề nghị Tòa án nhân dân thị xã K xem xét quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Văn T với thời gian là 18 tháng.

*Tại phiên họp hôm nay:

- Đại diện Phòng lao động - thương binh và xã hội thị xã K giữ nguyên đề nghị theo công văn số 312/LĐTBXH ngày 30/12/2020.

- Anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên họp và đã có đơn đề nghị Tòa án thị xã K mở phiên họp vắng mặt đối với anh T.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân nhân dân thị xã K: Tòa án nhân dân thị xã K đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Từ ý kiến nêu trên, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã K chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã K, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T từ 18 đến 21 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã K, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K, thì thấy:

- Về trình tự, thẩm quyền xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Phòng lao động thương binh và xã hội thị xã K là cơ quan đề nghị xem xét áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì thẩm quyền xem xét, áp dụng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh H.

Người bị đề nghị anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên họp và có đơn đề nghị về việc vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Tòa án tiến hành mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về tính hợp pháp của hồ sơ: Về đối tượng bị đề nghị, thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính và tài liệu có trong hồ sơ cơ bản đã đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 về việc sửa đổi bổ sung Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Về mẫu ban hành văn bản cơ bản đúng với Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của chính phủ chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính.

- Về hành vi vi phạm: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cũng như lời thừa nhận của Nguyễn Văn T tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai, có đủ cơ sở xác định: vào hồi 08 giờ 10 phút, ngày 11/12/2020, Nguyễn Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamin, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tú đã bị lập biên bản vi phạm hành chính, hiện tại T không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn T đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma tuý, gây nguy hại cho sức khoẻ, thể chất tinh thần của người sử dụng ma tuý, làm ảnh hưởng đến gia đình, người thân và cộng đồng, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác.Tài liệu chứng cứ đã thu thập, thể hiện Nguyễn Văn T nghiện ma túy từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, T không có biện pháp nào cai nghiện có hiệu quả. Do vậy, Phòng Lao động - thương binh và xã hội thị xã K đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96; điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết, Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính để xem xét khi áp dụng thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.

+ Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã thu giữ gồm: 01 lọ nhựa, 01 cóng thủy tinh, 01 bật lửa ga, 02 ống hút bằng nhựa đã qua sử dụng đã được tiêu hủy theo biên bản tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm hành chính ngày 18/12/2020 của Hội đồng xử lý tang vật vi phạm hành chính của Công an phường T1 nên không đặt ra xem xét xử lý.

Từ những căn cứ nêu trên, chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã K về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 9; Điểm b khoản 1 Điều 103; khoản 2 Điều 105; Điều 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 về việc sửa đổi bổ sung Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh H (Địa chỉ: thành phố C, tỉnh H) đối với Nguyễn Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Nguyễn Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã K có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã K có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã K phối hợp với Công an phường T1, thị xã K, tỉnh H.

Cỡ chữ