vanban.org

Quyết định 01/2021/HSST-QĐ — Hình sự

TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 18/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Dũng phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn Dũng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn D Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Dũng phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2021/HSST-QĐLạc Sơn, ngày 29 tháng 04 năm 2021.

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Quyết và ông Bùi Văn Ơn.

Căn cứ các điều 282, 299 và 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy: Ngày 29/4/2021 Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nhận được đơn xin rút yêu cầu của người bị hại là ông Bùi Văn Ch và bà Bùi Thị T; việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2021/HSST ngày 12 tháng 03 năm 2021 đối với bị cáo: Bùi Văn D; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 17/4/1988. Nơi cư trú: xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố về tội:“ Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

2. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vụ án sẽ được tiếp tục giải quyết khi có Quyết định phục hồi vụ án.

3. Hậu quả của việc đình chỉ vụ án: Bị hại ông Bùi Văn Ch, sinh năm 1963 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1963, cùng cư trú tại: xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Kiến nghị Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xem xét xử lý vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo Bùi Văn D đối với ông Bùi Văn Ch và bà Bùi Thị T sau khi Quyết định này có hiệu lực pháp luật.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09a ngày 24/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn đối với bị cáo Bùi Văn D. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- - VKSND huyện Lạc Sơn;

- - CA huyện Lạc Sơn;

- - Bị cáo;

- - Bị hại;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thanh Hoa TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LẠC SƠN

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc TỈNH HOÀ BÌNH

{ Bản án số: /2021/HSST Ngày: 29/04/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa

- Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Bùi Văn Ơn

+ Ông Bùi Văn Quyết

- Thư ký ghi biên bản phiên toà ông: Bùi Văn Hường - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà bà: Bùi Thị Phượng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.

Ngày 29/04/2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2021/HSST ngày 12 tháng 03 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn Dũng; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 17/4/1988. Nơi cư trú: xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ học vấn 3/12. Bố đẻ: Bùi Văn Chưm, sinh năm 1963, nghề nghiệp: Làm ruộng. Mẹ đẻ: Bùi Thị Táo, sinh năm 1963, nghề nghiệp: Làm ruộng. Cùng cư trú tại xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Gia đình bị can có 03 anh, em. Bị can là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Bùi Thị Phiên, sinh năm 1996, nghề nghiệp: Làm ruộng. Con: bị can có 01 con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa

- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn Dũng: ông Vũ Đình Hùng -Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Bị hại:

+ Ông Bùi Văn Chưm, sinh năm 1963; Trú tại xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

+ Bà Bùi Thị Táo, sinh năm 1963; Trú tại: xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 17/10/2020, trú tại xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình lên nhà ông Bùi Văn Chưm, sinh năm và bà Bùi Thị Táo, sinh năm 1963 (ở cùng xóm, là bố mẹ đẻ của Dũng). Khi lên đến nhà Dũng thấy tổ ong trong vườn đã bị đốt, khi đó có ông Chưm và bà Táo đang ở nhà cùng cháu nội là Bùi Tuấn Anh, sinh năm 2019 (con trai Dũng), Dũng hỏi bố đẻ “tại sao không đợi con về mới đốt tổ ong”, ông Chưm đáp lại “có các chú gọi nhau đốt rồi”, sau đó Dũng đòi ông Chưm, bà Táo thóc thì ông Chưm đáp “nuôi con và nuôi cháu rồi”. Ông Chưm vừa nói xong thì Dũng xông vào phía ông Chưm đang ngồi rồi dùng chân phải đá thẳng một lần vào ông Chưm, trúng vào vùng sườn bên trái và trượt lên phần mắt trái của ông Chưm làm ông Chưm ngã ngửa xuống vị trí ông Chưm đang ngồi. Thấy vậy bà Táo có nói với Dũng “sao lại đánh bố, đánh mẹ, nuôi con cho rồi còn đánh”, bà Táo vừa nói xong thì Dũng quay người lại chạy đến chỗ bà Táo đang ngồi dùng chân phải đá thẳng một lần vào bà Táo trúng vào má, mắt bên trái của bà Táo ngã tại chỗ. Sau khi đánh bà Táo xong Dũng rời khỏi hiện trường, sau khi bà Táo tỉnh lại ông Chưm và bà Táo đến trạm y tế xã Quý Hòa điều trị

Ngày 29/10/2020 Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình ban hành kết luận giám định thương tích số 226 đối với ông Bùi Văn Chưm, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Vết biến đổi sắc tố da vùng mặt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01% (một phần trăm).

Ngày 29/10/2020 Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình ban hành kết luận giám định thương tích số 228 đối với bà Bùi Thị Táo, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thay đổi sắc tố da vùng mặt, cổ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (hai phần trăm).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, bị can Bùi Văn Dũng đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi gây thương tích cho ông Chưm và bà Táo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn thu thập được

Về phần dân sự: Các bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, do đó không đề cập giải quyết.

Theo bản cáo trạng số: 14/CT-VKS-TT ngày 12/03/2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn Nhiệu về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Kết thúc phần xét hỏi vị đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội; Nội dung bản luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội“Cố ý gây thương tích” theo điểm d,i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Áp dụng: điểm d,i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn Dũng từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không đề cấp giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51; Điều 65. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã tóm tắt ở phần trên. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố, nội dung bản luận tội của Viện Kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện Kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và gửi lời xin lỗi sâu sắc đến người bị hại.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả thẩm vấn và tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại và lời khai của người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạc Sơn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trước cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại đồng thời phù hợp khách quan với các dấu hiệu thương tích của ông Bùi Văn Chưm và bà Bùi Thị Táo thể hiện trong hồ sơ bệnh án; kết luận của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Hòa Bình về tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên và cơ chế hình thành thương tích cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ ngày 17/10/2020, trú tại xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Bùi Văn Dũng đã gấy thương tích cho chính bố mẹ đẻ của mình, với lí do nhỏ nhặt là việc ông Chưm đốt tổ ong không gọi bị cáo, mẹ bị cáo thấy con đánh bố có nói vài câu và bị cáo đá thẳng một lần vào bà Táo trúng vào má, mắt bên trái của bà Táo. Hậu quả ông Bùi Văn Chưm bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 1%, bà Bùi Thị Táo bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 2%. Bùi Văn Dũng là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý; gây thuowng tích cho chính bố mẹ đẻ của mình vì lý do nhỏ nhặt nên hành vi của Bùi Văn Dũng phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d,i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố bị cáo Bùi Văn Dũng về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác mà pháp luật hình sự nghiêm cấm; hành vi gây thương tích cho bố mẹ đẻ của mình là hành vi đáng lên án về mặt đạo đức cũng như truyền thống gia đình. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành và nhận thức rõ hành vi của mình là vi không những phạm pháp luật mà còn bị xã hội lên án nên cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để có đủ tác dụng giáo dục đồng thời mang tính phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn; trình độ học vấn thấp. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất lỗi, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành người hữu ích cho xã hội.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ là phù hợp với hành vi của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên cần được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d,i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/NQ-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Dũng phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Dũng

Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Án xử công khai, bị cáo, người bị hại, có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ