vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật của anh Nguyễn Văn C. Hủy Giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/02/1996 của UBND xã H1, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) đã cấp cho anh Nguyễn Thàng C (tức Nguyễn Văn C) và chị Nguyễn Thị H

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị H: C nhận quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Văn C - sinh ngày 05/10/1977 và chị Nguyễn Thị H - sinh ngày 12/9/1978 đều trú tại thôn Trung Thượng, xã H1, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội kể từ thời điểm anh Nguyễn Văn C đủ điều kiện kết hôn theo q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hủy kết hôn trái pháp luật"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật của anh Nguyễn Văn C. Hủy Giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/02/1996 của UBND xã H1, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) đã cấp cho anh Nguyễn Thàng C (tức Nguyễn Văn C) và chị Nguyễn Thị H
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-VHNGĐỨng hòa, ngày 17 tháng 7 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

V/v: Hủy việc kết hôn trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần giải quyết việt dân sự :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Thiện

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội

Đại diện VKSND huyện Ứng Hòa tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm C khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 158/2020/TLST- VHNGĐ ngày 15/6/2020 về việc Hủy kết hôn trái pháp luật, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số: 01/2020/QĐST-VHNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây.

1. Người yêu cầu giải quyết: Anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1977. Nguyên quán và nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã H1, huyện Ư, thành phố Hà Nội (có mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Ủy ban nhân dân xã H1, huyện Ứng Hòa

Địa chỉ: xã H1, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Nam T1 - Chủ tịch (vắng mặt).

2.2. Chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1978. Nguyên quán và nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã H1, huyện Ư, thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Người yêu cầu, anh Nguyễn Văn C trình bày: Ngày 12/02/1996, anh có kết hôn với chị Nguyễn Thị H tại UBND xã H1. Xong vì khi đó do không hiểu biết các quy định của pháp luật nên anh chị đã khai anh là Nguyễn Thành C - sinh ngày 01/02/1975 còn chị H là Nguyễn Thanh H - sinh ngày 04/9/1978. Thực tế thì anh là Nguyễn Văn C - sinh ngày 05/10/1977 còn chị H là Nguyễn Thị H - sinh ngày 12/9/1978. Sau khi đăng ký kết hôn, tổ chức cưới xong, vợ chồng chung sống và cũng không để ý gì đến Giấy đăng ký kết hôn. Nay, anh chị mới nhận thấy việc kê khai như vậy là không đúng quy định của pháp luật. Vậy anh làm đơn đề nghị Tòa hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị H. Về con chung, anh chị có 02 con chung là Nguyễn Văn Đ1 - sinh ngày 26/11/1996 và Nguyễn Thị Ngọc L - sinh ngày 22/02/2005, do anh đề nghị hủy kết hôn để làm thủ tục kết hôn lại nên anh không đề nghị Tòa giải quyết về con chung. Về tài sản và C nợ: anh không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ủy ban nhân dân xã H1, ông Phạm Nam Tiến trình bày: Qua tra cứu sổ lưu tại UBND xã H1 thể hiện anh Nguyễn Thành C - sinh ngày 01/02/1975 và Nguyễn Thanh H - sinh ngày 04/9/1978 đăng ký kết hôn tại UBND xã H1 vào ngày 12/02/1996. Nay anh C đề nghị Hủy kết hôn trái pháp luật, đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

2/ Chị Nguyễn Thị H trình bày: Ngày 12/02/1996, chị và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H1. Xong vì khi đó anh C chưa đủ tuổi và thiếu hiểu biết pháp luật nên anh chị đã khai thêm tên đệm và ngày tháng năm sinh bị sai nên tại Giấy đăng ký kết hôn thể hiện anh C lại là Nguyễn Thành C - sinh ngày 01/2/1975 còn chị là Nguyễn Thanh H - sinh ngày 04/9/1978. Thực tế thì anh C là Nguyễn Văn C - sinh ngày 05/10/1977 còn là Nguyễn Thị H - sinh ngày 12/9/1978. Nay, anh chị mới nhận thấy việc kê khai như vậy là không đúng quy định của pháp luật nên anh C làm đơn đề nghị Tòa hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị. Vì vậy, chị không có ý kiến gì; đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh chị có 02 con chung là Nguyễn Văn Đ1 - sinh ngày 26/11/1996 và Nguyễn Thị Ngọc L - sinh ngày 22/02/2005, chị không đề nghị Tòa giải quyết về con chung. Về tài sản và C nợ: chị không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết.

Tại phiên họp, đại diện UBND xã H1 vắng mặt; anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị H có mặt và cùng yêu cầu Tòa án C nhận quan hệ hôn nhân và không xuất trình thêm bất kỳ tài liệu chứng cứ nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Trình tự từ khi thụ lý việc dân sự, về quan hệ pháp luật, quá trình thu thập chứng cứ, về thời gian, thời hạn tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dânsự. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án, sự trình bầy của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên họp đã bảo đảm quy định pháp luật, đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu của anh C và chị H: Hủy Giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/02/1996 của UBND xã H1, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) đã cấp cho anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị H và C nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn C - sinh ngày 05/10/1977 với chị Nguyễn Thị H - sinh ngày 12/9/1978 kể từ thời điểm anh C đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 06/10/1996. Anh C và chị H phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn C đã nộp đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ theo quy định - căn cứ vào khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc hôn nhân và gia đình này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

Tại phiên họp, anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị H đều yêu cầu Tòa án C nhận quan hệ hôn nhân được Tòa chấp nhận là phù hợp với Điều 244, Điều 361 của BLTTDS.

Trong quá trình xét đơn yêu cầu, Tòa đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, quyết định mở phiên họp, giải thích quyền và nghĩa vụ cho UBND xã H1; xong tại phiên họp hôm nay, người đại diện cho UBND xã H1 đã có đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 367 BLTTDS, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ như sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy chứng minh nhân dân đều thể hiện anh C là Nguyễn Văn C - sinh ngày 05/10/1977; chị H là Nguyễn Thị H - sinh ngày 12/9/1978 và đã được C an xã H1 xác nhận tên tuổi thể hiện ở Giấy đăng ký kết hôn và ở Giấy khai sinh là một người và tên tuổi trong giấy khai sinh mới đúng với họ tên, ngày tháng năm sinh của anh C, chị H. Như vậy đã có đủ căn cứ chứng minh chị Nguyễn Thị H - sinh ngày 12/9/1978 (đã đủ tuổi kết hôn), anh Nguyễn Văn C - sinh ngày 05/10/1977, thời điểm đăng ký kết hôn anh C được 18 tuổi 4 tháng 7 ngày (chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn), do vậy anh C đã khai sinh ngày 01/02/1975 để đủ tuổi đăng ký kết hôn. Xuất phát từ việc UBND xã H1 đã đăng ký kết hôn cho anh C, chị H, tại Giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/02/1996 ghi họ tên chồng là Nguyễn Thành C - sinh ngày 01/02/1975, họ tên vợ là Nguyễn Thị H - sinh ngày 04/9/1978 đều không đúng với họ tên và ngày tháng năm sinh thực của anh C, chị H. Việc đăng ký kết hôn đã vi phạm vào Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, tại Điều 5 có quy định “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên”. Như vậy có căn cứ xác định tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 12/02/1996 anh C chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn; việc UBND xã H1 đã đăng ký kết hôn cho anh C và chị H là sai (do cán bộ nhận thức hoặc do cẩu thả), đã cấp giấy đăng ký kết hôn trái với quy định của pháp luật. Nay, anh C có đơn yêu cầu Tòa hủy kết hôn trái pháp luật là có căn cứ theo Điều 5, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 6 Điều 3, Điều 8, Điều 10, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại phiên họp xét đơn yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, anh C, chị H đều xác định anh chị đã có đủ điều kiện kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và có với nhau 02 con chung, tài sản chung nhưng vì họ tên, ngày tháng năm sinh của hai anh chị không trùng khớp nhau nên đã ảnh hưởng đến việc giao dịch dân sự trong cuộc sống của anh chị. Anh C và chị H đều thống nhất đề nghị Tòa C nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm anh C đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Yêu cầu C nhận hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo Đ1, không vi phạm pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận, C nhận quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị H đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật từ ngày 06/10/1996.

Về con chung, tài sản chung: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị H đều không yêu cầu đề nghị.

Về lệ phí, quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn C không phải nộp tiền lệ phí yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật. Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị H phải nộp tiền lệ phí Hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016; Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 5, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 1986); khoản 6 Điều 3, Điều 8, Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014);

Căn cứ khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; Điều 149, Điều 244, Điều 361, Điều 362, Điều 366, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao và Bộ Tư pháp

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật của anh Nguyễn Văn C. Hủy Giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/02/1996 của UBND xã H1, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) đã cấp cho anh Nguyễn Thàng C (tức Nguyễn Văn C) và chị Nguyễn Thị H

2. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị H: C nhận quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Văn C - sinh ngày 05/10/1977 và chị Nguyễn Thị H - sinh ngày 12/9/1978 đều trú tại thôn Trung Thượng, xã H1, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội kể từ thời điểm anh Nguyễn Văn C đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật từ ngày 06/10/1996.

Anh Nguyễn Văn C - sinh ngày 05/10/1977 và chị Nguyễn Thị H - sinh ngày 12/9/1978 có quyền, trách nhiệm đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

3. Về lệ phí: Anh Nguyễn Văn C không phải chịu lệ phí giải quyết việc Hôn nhân và gia đình; Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị H phải nộp lệ phí giải quyết việc Hôn nhân và gia đình là 300.000đ.

4. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ